[Tổng hợp] Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình

Dưới đây là một số Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình do HILAW tổng hợp xin san sẻ để những bạn tham khảo, ôn tập.


1. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 01

Nhận định

Nhận định đúng sai, giảng giải dựa trên cơ sở vật chất pháp lý (6 điểm)

1 – Người đã thành niên, ko bị mất năng lực hành vi dân sự, tự nguyện kết hôn và ko thuộc những trường hợp cấm kết hôn thì mang quyền kết hôn.

2 – Mọi hành vi chung sống như vợ chồng từ ngày 01.01.20001 trở đi mà ko đăng ký kết hôn đều ko được xác nhận quan hệ vợ chồng.

3 – Tiền trợ cấp mà một bên mang được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

4 – Mọi giao dịch liên quan tới tài sản chung, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu do vợ hoặc chồng thực hiện đều phát sinh trách nhiệm liên đối với bên vợ, chồng còn lại.

5 – Lúc một bên vợ, chồng ko đồng ý, người còn lại ko thể tiến hành nhận nuôi con nuôi.

6 – Lúc hôn nhân kết thúc, mọi quyền và nghĩa vụ giữa những người đã từng là vợ chồng cũng kết thúc.

Bài tập

Ông Lê Hùng và Bà Nguyễn Chéo chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1980 mà ko đăng ký kết hôn. Hai người mang Hai con chung là An và Lan. Năm 1985, ông Hùng mang quan hệ thân thiết với bà Quán. Tới năm 1986 ông cùng bà Quán bỏ đi khỏi địa phương để cùng chung sống với nhau, giữa họ mang 6 con chung. Năm 1989 bà chéo được cấp Giấy chứng thực quyền sử dụng 1040m2 đất. Năm 2015, ông Hùng yêu cầu Tòa án chia tài sản là 1040m2 đất của vợ chồng ông (tức ông và bà Chéo).

Bằng những quy định của pháp luật hiện hành, anh chị hãy khắc phục yêu cầu kể trên./. (4 điểm)


2. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 02

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý (6 điểm)

1 – Hành vi xác lập quan hệ vợ chồng mang thể ủy quyền cho người khác thực hiện.

2 – Chỉ UBND cấp tỉnh nơi công dân Việt Nam trú ngụ mới mang thẩm quyền đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam.

3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 01.01.2001 nếu đảm bảo những điều kiện kết hôn đều được pháp luật xác nhận là vợ chồng.

4 – Người đang mang vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác thì lần kết hôn sau sẽ bị Tòa án hủy lúc mang yêu cầu.

5 – Người chưa thành viên cũng mang quyền nhận nuôi con nuôi.

6 – Quyền ly hôn của người khuyết tật nghe, nói phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.

Bài tập

Năm 1980, ông Dũng hỏi, cưới bà Thủy trong niềm hoan hỉ của hai bên gia đình. Khối tài sản chung hai người tạo lập sau sắp 20 năm chung sống là căn nhà xây trên 120m2 đất tọa lạc tại xã HL, quận PL, tỉnh ĐN trị giá 1,5 tỷ đồng. Nhà đất này do ông Dũng đứng tên trên giấy chứng thực quyền sở hữu – sử dụng. Ông Dũng, bà Thủy mang con chung là Việt.

Sau lúc bà Thủy mất ko để lại di chúc vào năm 1999. Ông Dũng giao nhà đất cho con trai quản lý rồi tới địa phương khác chung sống với bà Ngà như vợ chồng. Ông Dũng và bà Ngà ko mang tài sản chung nhưng mang con chung là Ngọc.

Tháng 01.2003, ông Dũng chết ko để lại di chúc. Bà Ngà khởi kiện yêu cầu chia thừa kế – phần di sản liên quan tới khối nhà đất 120m2 của ông Dũng tại tỉnh ĐN.

Trên cơ sở vật chất pháp lý của pháp luật, hãy xác định tính chất hôn nhân giữa ông Dũng – bà Thủy; ông Dũng – bà Ngà.

Khắc phục tranh chấp thừa kế trong tình huống trên như thế nào cho thích hợp với ý thức pháp luật? (Yêu cầu: Xác định phần di sản thừa kế của ông Dũng và đối tượng thừa hưởng di sản của ông)./.


3. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 03

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Người đã thành niên cũng mang thể ko mang quyền kết hôn dù thỏa mãn quy định tại Khoản Hai Điều 9 và Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

2 – UBND cấp tỉnh là cơ quan duy nhất mang thẩm quyền đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài tại Việt Nam.

3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 03.01.1987 tới trước ngày 01.01.2001 mang thể được xác nhận là vợ chồng dù những bên ko đăng ký kết hôn.

4 – Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

5 – Dân tộc của con nuôi mang thể được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi.

6 – Quyền ly hôn của người khuyết tật nghe, nói phải được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật.

Bài tập

Ông Tín và bà Nga sống chung như vợ chồng năm 1982 ( hai bên ko đăng ký kết hôn dù họ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của LHNGĐ 1959). Khối tài sản chung do hai người tạo lập là căn nhà xây trên diện tích đất 200m2 tại xã VH, quận PL, tỉnh X trị giá 3 tỷ đồng. Nhà đất này do ông Tín đứng tên trên giấy chứng thực quyền sở hữu – sử dụng. Ông Tín và và Nga mang con chung là Tú, sinh năm 1983.

Năm 1992, bà Nga mất ko để lại di chúc.

Năm 1999, ông Tín đưa bà Phương về chung sống như vợ chồng. Ông Tín, bà Phương mang khối động sản chung là 400 triệu đồng và mang con chung là Hạnh sinh năm 2001.

Ngày 09.12.2002, ông Tín chết ko để lại di chúc. Con ông Tín là Tú khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do những bên mang quyền và nghĩa vụ liên quan ko tìm được sự đồng thuận.

1 – Hãy xác định tính chất “hôn nhân” giữa ông Tín và bà Nga, giữa ông Tín và bà Phương trên cơ sở vật chất pháp luật. (Hai điểm)

2 – Tòa án mang thẩm quyền khắc phục tranh chấp thừa kế trong tình huống trên như thế nào, vì sao? (Yêu cầu: Xác định rõ phần di sản thừa kế của ông Tín và đối tượng thừa hưởng di sản của ông)./. (Hai điểm)


4. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 04

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Con riêng của một bên vợ chồng ko mang quyền kết hôn với con chung (con đẻ) của hai vợ chồng.

2 – Kết hôn mang yếu tố nước ngoài mang thể đăng ký tại UBND cấp xã.

3 – Hội Liên hợp phụ nữ mang quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện.

4 – Việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung của vợ chồng theo chế độ tài sản pháp định phải lập thành văn bản và phải được công chứng.

5 – Cháu đã thành niên ko sống chung với chú ruột phải mang nghĩa vụ cấp dưỡng cho chú trong trường hợp chú ko mang khả năng lao động hoặc ko mang tài sản để tự nuôi mình.

6 – Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em mang quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con lúc cha mẹ ko còn đủ điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con.

Bài tập

Ông Hoàng kết hôn với bà Anh năm 1990. Năm 1995, do vợ chồng tranh chấp, ông Hoàng bỏ nhà tới sống chung như vợ chồng với bà Xuân. Ngày 02.05.2002, UBND xã H nơi bà Xuân trú ngụ đăng ký kết hôn cho ông Hoàng và bà Xuân.

Năm 2011, bà Anh yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và bà Xuân lúc biết được sự việc.

Trước yêu cầu của bà Anh, mang ý kiến cho rằng ông Hoàng và bà Xuân vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo khoản Một Điều 10 LHNGĐ năm 2000 nên tòa án phải hủy việc kết hôn này. Tuy nhiên, cũng mang ý kiến khẳng định ông Hoàng, bà Xuân là vợ chồng vì họ thuộc trường hợp hôn nhân thực tế và đã đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm theo Quyết nghị 35/2000.

Từ góc độ pháp lý, hãy cho biết quan niệm của anh chị về pháp luật vận dụng và đường lối khắc phục yêu cầu của bà Anh theo tình huống trên. (4 điểm)

5. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 05

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn mang quyền kết hôn.

2 – Hội Liên hợp phụ nữ mang quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện.

3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng mang thể được pháp luật xác nhận là vợ chồng.

4 – Vợ, chồng ko chung thủy với nhau là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng.

5 – Người chưa thành niên mới được nhận làm con nuôi.

6 – Quan hệ vợ, chồng kết thúc bởi quyết định tuyên bố một bên vợ, chồng mất  tích mang hiệu lực của Tòa án.

Bài tập

Ông Lý cưới bà Nguyệt năm 1990 nhưng ko đăng ký kết hôn. Lúc tổ chức lễ cưới, hai bên ko vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại Điều 5,6,7 LHNGĐ năm 1986.

Chung sống hạnh phúc tới năm 2005 thì giữa ông Lý và bà Nguyệt phát sinh tranh chấp do bà Nguyệt ko mang khả năng sinh con.

Tháng 05.2005, ông Lý nộp đơn yêu cầu Tòa án quận Q hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa ông và bà Nguyệt với lý do ông bà ko đăng ký kết hôn.

1 – Hỏi, Tòa án mang thẩm quyền thụ lý vụ khắc phục ông Lý và Nguyệt ly hôn hay hủy việc kết hôn của họ hay xác định hôn nhân giữa ông Lý, bà Nguyệt ko mang trị giá pháp lý và ko xác nhận những bên mang quan hệ vợ chồng? (Phân tích trên cơ sở vật chất pháp lý) (Hai điểm)

2 – Giả thiết ông Lý và bà Nguyệt tranh chấp tài sản thì tòa án phân định vấn đề này ra sao biết rằng tại thời khắc Tòa án khắc phục vụ việc, ông Lý và bà Nguyệt mang khối động sản chung trị giá 1,Hai tỷ đồng? (Hai điểm)


6. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 06

Nhận định

Nhận định đúng sai, giảng giải dựa trên cơ sở vật chất pháp lý (6 điểm)

1 – Việc nam và nữ khởi đầu chung sống với nhau từ ngày 01.01.2001 trở về sau mà ko đăng ký kết hôn đều ko được xác nhận là vợ chồng.

2 – Thời khắc khởi đầu phát sinh quan hệ vợ chồng là lúc họ được cơ quan nhà nước mang thẩm quyền đăng ký kết hôn và cấp giấy chứng thực kết hôn.

3 – Lúc cha mẹ ko thể nuôi dưỡng, cấp dưỡng được cho con, thì ông bà phải mang nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho cháu.

4 – Nghĩa vụ và quyền về hôn nhân gia đình mang thể vẫn còn tồn tại ngay cả lúc những chủ thể đã kết thúc  quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

5 – Người ko mang điều kiện về kinh tế, sức khỏe, chỗ ở đảm bảo chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi thì ko mang quyền nhận nuôi con nuôi.

6 – Trong một số trường hợp, người nhận nuôi con nuôi ko nhất thiết phải to hơn con nuôi từ 20 tuổi.

Bài tập

Sinh viên tự chọn một trong hai bài tập dưới đây (4 điểm)

Bài số 1

Năm 1997, anh Hoa được nhà nước cho thuê căn nhà diện tích 80m2 tại số 5 đường 9 phường K. Năm 2000 anh Hoa kết hôn với chị Lành và hai vợ chồng về sống chung tại căn nhà này.

Năm 2005, anh chị sắm căn nhà số 89 đường 9 phường K và chuyển về sống tại đây. Nhà số 5 anh Hoa cho thuê, mỗi tháng được 5 triệu đồng.

Năm 2011, anh Hoa và chị Lành ly hôn và tranh chấp căn nhà số 5 đường 9 phường K. Anh Hoa cho rằng: Nhà này Nhà nước cho anh thuê trước lúc kết hôn, nên chỉ mình anh được tiếp tục thỏa thuận thuê, nếu Nhà nước hóa giá, chỉ mình anh được sắm.

Chị Lành thì cho rằng: Mặc dù căn nhà này Nhà nước cho anh Hoa thuê trước lúc kết hôn, nhưng anh đã đưa vào sử dụng chung, nên quyền được thuê nhà là tài sản chung của hai vợ chồng.

Theo anh chị nếu tòa án khắc phục cho họ ly hôn, tranh chấp liên quan tới căn nhà số 5 đường 9 trên được khắc phục như thế nào? Căn cứ pháp lý? Biết rằng:

Trước lúc nộp đơn yêu cầu khắc phục ly hôn, họ đã bán căn nhà số 89, đường 9. Hiện tại cả hai đều mang nhu cầu sử dụng căn nhà số 5 đường 9.

Thời hạn thuê nhà vẫn còn.

Trong thời kì sống chung, hai vợ chồng đã đầu tư hết 50 triệu đồng để cải tạo, sửa chữa nhà số 5 trên.

Bài số 2

Anh Hà và chị Lan kết hôn năm 2010.

Năm 2013 anh Hà thành lập doanh nghiệp tư nhân Đại Phát, chuyên về phân phối bánh kẹo, do anh đứng tên là chủ doanh nghiệp. Việc thành lập doanh nghiệp là do hai vợ chồng đàm luận, thỏa thuận, vốn đầu tư thành lập là lấy từ tài sản chung của vợ chồng:

Theo anh chị:

Lợi tức thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân Đại Phát là tài sản riêng của anh Hà hay là tài sản chung của vợ chồng anh Hà, chị Lan? Căn cứ pháp lý?

Nếu phát sinh nghĩa vụ về tài sản từ hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trên, thì nghĩa vụ này được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản riêng của anh Hà hay tài sản của doanh nghiệp tư nhân và tài sản chung của vợ chồng anh Hà, chị Lan? Căn cứ pháp lý?


7. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 07

Nhận định

Trả lời đúng sai, kèm theo lời giảng giải, nêu cơ sở vật chất pháp lý

1 – Nam, nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 01.01.2001 nếu ko vi phạm điều kiện kết hôn được xác nhận là vợ chồng.

2 – Tài sản chung của vợ chồng mang thể được hình thành từ tài sản riêng của một bên.

3 – Nam nữ đang sống chung (ko đăng ký kết hôn) ko mang quyền nhận trẻ em làm con nuôi chung.

4 – Văn bản thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ mang hiệu lực lúc được công chứng.

5 – Để thích hợp với chính sách dân số gia đình VN, cặp vợ chồng chỉ được nhận từ một tới hai trẻ làm con nuôi.

6 – Hôn nhân chỉ kết thúc lúc một bên vợ, chồng chết.

Bài tập

Anh A và chị B là hai anh em họ. Ông ngoại của anh A và bà ngoại của chị B là hai anh em ruột. Sau nhiều lần gặp gỡ, anh A và chị B phát sinh tình cảm và quyết định tiến tới hôn nhân. Lúc anh A, chị B cho biết dự kiến kết hôn, cả Hai bên gia đình đều phản đối vì giữa A, B mang quan hệ họ hàng thân thích.

1 – Sự phản đối của người thân làm cho anh A và chị B băn khoăn. Họ ko biết việc kết hôn của mình mang vi phạm pháp luật HNGĐ ko? (Hai điểm)

2 – Căn cứ vào Luật HNGĐ năm 2000, anh (chị) hãy tư ấn cho anh A và chị B điều kiện kết hôn và dự kiến kết hôn của họ. (Hai điểm)


8. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 08

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03.01.1987 đều được pháp luật xác nhận là vợ chồng.

2 – Việc kết hôn vi phạm sự tự nguyện sẽ bị Tòa án ra quyết định hủy hôn lúc mang yêu cầu.

3 – Việc xác lập, thực hiện những giao dịch liên quan tới tài sản chung của vợ chồng phải mang sự đồng ý của hai bên vợ chồng.

4 – Con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân đương nhiên là con chung của vợ chồng.

5 – Người nhận con nuôi phải là người thành niên.

6 – Hòa giải cơ sở vật chất là thủ tục phải tiến hành trước lúc Tòa án khắc phục yêu cầu ly hôn.

Bài tập

Anh A và chị B sống chung như vợ chồng từ ngày 05.01.2009. Ko lâu sau lúc “nên nghĩa”, cuộc sống chung của A, B phát sinh tranh chấp do anh A nghi ngờ chị B ngoại tình. Ngày 03.09.2009, chị B gửi đơn yêu cầu Tòa án khắc phục cho ly hôn anh A. Sau lúc thụ lý và xem xét vụ việc, Tòa án nhân dân quận H ra quyết định số 181/2000/QĐ-VDS ngày 10.11.2009 ko xác nhận A, B là vợ chồng. Tháng 12.2009, anh A đột tử.

Ngày 10.03.2010, chị B sinh con là C. Lúc đi đăng ký khai sinh cho con, chị B đã yêu cầu UBND phường N nơi chị trú ngụ ghi tên anh A – với tư cách cha đẻ – vào Giấy khai sinh của C.

Hỏi: Với nguyện vọng của chị B và để đảm bảo quyền lợi cho C, UBND phường N cần khắc phục vụ việc trên như thế nào? Vì sao?


9. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 09

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Người đang chấp hành án phạt tù (mang giam giữ) ko mang quyền kết hôn.

2 – Việc xác lập quan hệ vợ chồng mang thể ủy quyền cho người khác thực hiện.

3 – Nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng từ ngày 03.01.1987 tới trước ngày 01.01.2001 đủ điều kiện mà ko đăng ký kết hôn vẫn mang thể được xác nhận là vợ chồng.

4 – Trong chế độ tài sản pháp định, lợi tức phát sinh từ tài sản sau lúc chia trong thời kỳ hôn nhân vẫn mang thể xác định là tài sản chung của vợ chồng.

5 – Ông bà mang nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu ko còn cha mẹ.

6 – Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ thừa nhận quyền ly hôn của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng.

Bài tập

Ông Hoàng chung sống như vợ chồng với bà Lâm từ tháng 12 năm 1986. Họ mang tổ chức lễ cưới trước lúc về sống chung nhưng ko đăng ký kết hôn dù đủ điều kiện kết hôn theo pháp luật hôn nhân và gia đình.

Tháng 05.2002, dù đang chung sống với bà Lâm nhưng ông Hoàng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng với bà Cầm và mang con chung tên Minh (sinh năm 2003). Ngày 15.02.2004, ông Hoàng, bà Cầm đăng ký kết hôn. UBND xã NĐ, quận LN, tỉnh BP nơi bà Cầm đăng ký tạm trú (Bà Cầm đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường 1, quận BT, thành thị trấn H) đã cấp Giấy chứng thực kết hôn cho hai người.

Tháng 04.2015, phát hiện sự việc (tới tại thời khắc này, ông Hoàng vẫn duy trì quan hệ với bà Lâm), bà Lâm gửi đơn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và bà Cầm với lý giải ông Hoàng kết hôn với bà Cầm lúc ông đang mang vợ.

Theo anh chị, ông Hoàng mang thuộc trường hợp “người đang mang vợ” tại thời khắc ông xác lập quan hệ vợ chồng với bà Cầm ko? Hạ tầng pháp lý?

Tòa án mang thẩm quyền khắc phục yêu cầu của bà Lâm theo hướng nào sau đây cho thích hợp với ý thức pháp luật: i) Thừa nhận ông Hoàng và bà Cầm là vợ chồng? ii) Hủy việc kết hôn giữa ông Hoàng và bà Cầm? iii) Ko xác nhận ông Hoàng và bà Cầm là vợ chồng?


10. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 10

Nhận định

Trả lời đúng sai, kèm theo lời giảng giải, nêu cơ sở vật chất pháp lý  những nhận định sai? (6 điểm)

1 – Người bị Tòa án ra quyết định hạn chế năng lực hành vi dân sự thì ko được kết hôn.

2 – Những người sống chung với nhau như vợ chồng mà ko đăng ký kết hôn thì ko được pháp luật xác nhận.

3 – Tài sản mà vợ chồng mang được do thừa kế chung là tài sản thuộc sở hữu chung thống nhất của vợ chồng.

4 – Xuất phát từ nguyên tắc hôn nhân tự nguyện nên chỉ một bên hoặc cả hai bên hoặc cả hai bên vợ chồng mới mang quyền yêu cầu Tòa án khắc phục việc ly hôn của họ.

5 – Lúc Tòa án khắc phục việc giao con cho cha hoặc mẹ nuôi lúc vợ chồng ly hôn, thì Tòa án phải căn cứ vào nguyện vọng của người con để khắc phục nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên.

6 – Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ hoặc chồng được trả tiền từ tài sản riêng của người đó.

Bài tập

Anh M và chị N quen biết nhau qua những người bạn học chung lớp Anh văn. Sau một thời kì tham gia những hoạt động ngoại khóa cùng những bạn, giữa M và N phát sinh quan hệ yêu đương. Sau một thời kì duy trì mối quan hệ tình cảm thắm thiết, M và N quyết định cùng nhau xác lập quan hệ hôn nhân. Anh M và Chị N gặp gỡ hai bên gia đình và trình bày nguyện vọng kết hôn với nhau. Lúc hai bên gia đình gặp nhau bàn chuyện kết hôn thì mới biết anh M và chị N mang họ hàng sắp gũi. Cha của chị N là em của ông ngoại anh M. Lúc quan hệ họ hàng giữa M và N được xác định, gia đình hai bên nghiêm cấm ko cho M và N kết hôn cùng nhau.

Theo anh chị, xét dưới khía cạnh pháp luật hôn nhân và gia đình anh M và chị N mang thể kết hôn với nhau ko? Vì sao?

Hình minh họa. [Tổng hợp] Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình

11. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 11

Nhận định

Giảng giải đúng, sai những nhận định sau trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Người bị thiểu năng trí tuệ ko mang quyền kết hôn.

2 – Việc đăng ký kết hôn mang yếu tố nước ngoài mang thể được thực hiện tại UBND cấp xã nơi trú ngụ của công dân Việt Nam.

3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng trước ngày 01.01.2001 nếu mang đủ điều kiện kết hôn thì pháp luật xác nhận là vợ chồng.

4 – Những giao dịch dân sự do một bên vợ hoặc chồng tiến hành, lúc mang yêu cầu Tòa án tuyên bố là vô hiệu thì Tòa án sẽ tuyên bố là vô hiệu.

5 – Chế độ tài sản theo quy định của pháp luật sẽ được vận dụng lúc vợ chồng ko lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận.

6 – Lúc khắc phục ly hôn, Tòa án phải tiến hành thủ tục hòa giải.

Bài tập

Anh X và chị Y xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp vào năm 2002. Họ mang con chung là C, sinh năm 2003. Sau một thời kì chung sống giữa X và Y phát sinh tranh chấp trầm trọng. Để tránh phát sinh những hậu quả tồi tệ trong mối quan hệ với chị Y, anh X bỏ đi nơi khác sống. Năm 2008, sau một thời kì quen biết, anh X phát sinh quan hệ tình cảm với chị D. Anh X và chị D quyết định kết hôn với nhau. Việc kết hôn của anh X và chị D được UBND xã K quận H tỉnh M (nơi trú ngụ của chị D) xác nhận. Lúc xác lập quan hệ vợ chồng với chị D, anh A khẳng định mình là người đơn thân.

Sau lúc sống chung được hai năm, phát hiện anh X là người đã mang vợ là chị Y nên chị D nhờ Hội Liên hợp phụ nữ quận H can thiệp. Hội Liên hợp phụ nữ quận H đã yêu cầu Tòa án quận H hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh X và chị D. Tòa án đã thụ lý khắc phục yêu cầu của Hội Liên hợp phụ nữ, buộc X, D phải kết thúc quan hệ như vợ chồng và chia đôi khối tài sản trị giá 800 triệu hình thành trong thời kì hai bên chung sống.

Trình bày ý kiến của anh chị về quyết định của Tòa án mang thẩm quyền trong việc xử lý vụ việc nêu trên? (4 điểm)


12. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 12

Nhận định

Nhận định đúng/sai, giảng giải dựa trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Người đã thành niên, ko bị mất năng lực hành vi dân sự, tự nguyện kết hôn và ko thuộc những trường hợp cấm kết hôn thì mang quyền kết hôn.

2 – Trường hợp tại thời khắc kết hôn, nam nữ ko đủ điều kiện kết hôn nhưng sau đó đã đáp ứng điều kiện kết hôn, nếu một bên yêu cầu xác nhận quan hệ hôn nhân, còn bên kia ko mang yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật.

3 – Mọi giao dịch do một bên thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình, mà ko mang sự đồng ý của bên còn lại đều làm phát sinh trách nhiệm liên đới đối với vợ chồng.

4 – Huê lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng sẽ là tài sản chung nếu huê lợi, lợi tức đó là nguồn sống duy nhất của gia đình.

5 – Lúc ko sống chung cùng với cha mẹ, con đã thành niên mang khả năng lao động phải cấp dưỡng cho cha mẹ.

6 – Thuận tình ly hôn là việc vợ chồng cùng yêu cầu khắc phục ly hôn một cách tự nguyện.

Bài tập

M và Q tổ chức lễ cưới và khởi đầu chung sống như vợ chồng vào tháng Một năm 1986. Sau một khoảng thời kì chung sống với Q, M khởi đầu đi làm ăn xa nhà. Từ thời kì từ tháng 7 năm 2011 tới tháng 12 năm 2015 M chung sống như vợ chồng với C – là người địa phương nơi M đang sinh sống. Cũng từ thời kì này (vào tháng Một năm 2015) C sinh con là K. Sau đó, do công việc làm ăn thuận lợi nên M trở về quê để tiếp tục sinh sống và làm việc. Ko mang sự tương trợ của M đời sống của cô C và cháu K vô cùng khó khăn. Mặc dù C đã nhiều lần yêu cầu M cấp dưỡng cho con nhưng M đều từ chối.

Hãy tư vấn cho C những thủ tục pháp lý cần thiết để cô C bảo vệ quyền lợi của mình và cháu K.


13. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 13

Nhận định

Nhận định đúng/sai, giảng giải dựa trên cơ sở vật chất pháp lý

1 – Trường hợp tại thời khắc kết hôn nam, nữ mang sự vi phạm điều kiện kết hôn, nhưng lúc Tòa án khắc phục yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật điều kiện kết hôn đã được thỏa mãn, một bên yêu cầu ly hôn, bên còn lại ko mang yêu cầu thì Tòa án khắc phục cho ly hôn.

2 – Việc nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà ko đăng ký kết hôn sẽ ko làm phát sinh quan hệ vợ chồng.

3 – Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định chỉ được vận dụng lúc vợ chồng ko lựa chọn vận dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận.

4 – Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, một bên vợ, chồng ko được tự mình định đoạt tài sản chung lúc ko mang sự đồng ý của người còn lại.

5 – Mối quan hệ nhận nuôi con nuôi chỉ được xác lập lúc mang sự đồng ý của cha mẹ đẻ (hoặc người giám hộ), người tiến hành nhận nuôi con nuôi, trẻ được nhận làm con nuôi.

6 – Vợ chồng ko thể ly hôn lúc người vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Bài tập

Q và L tổ chức lễ cưới và khởi đầu chung sống như vợ chồng vào tháng Một năm 1985. Sau một khoảng thời kì chung sống với Q, vào năm 2014, L đi làm ăn xa nhà và khởi đầu chung sống như vợ chồng với cô A. Từ thời kì này A sinh con là D. Gia đình ông L cũng biết điều này và ko ngừng khuyên giải ông về quê làm ăn sinh sống. Ít lâu sau công việc làm ăn thuận lợi nên ông L đã trở về quê. Ko mang sự tương trợ của ông L đời sống của cô A và cháu D vô cùng khó khăn. Mặc dù cô A đã nhiều lần yêu cầu ông L cấp dưỡng cho con và mình, nhưng ông L đều từ chối.

Hãy tư vấn cho cô A những thủ tục pháp lý cần thiết để cô A bảo vệ quyền lợi của mình và cháu D./.


14. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 14

Nhận định

Nhận định sau đây đúng hay sai, giảng giải dựa trên cơ sở vật chất pháp lý?

1 – Kể từ ngày 01/01/2001 trở đi, việc nam nữ khởi đầu chung sống với nhau như vợ chồng mà ko đăng ký kết hôn sẽ ko làm phát sinh quan hệ hôn nhân.

2 – Việc đăng ký kết hôn tại cơ quan ko mang thẩm quyền sẽ ko làm phát sinh quan hệ vợ chồng.

3 – Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định, tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung thống nhất ko thể phân chia được.

4 – Trong chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật, việc định đoạt tài sản chung nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình chỉ cần do một bên vợ/chồng quyết định và thực hiện.

5 – Người ko mang điều kiện về kinh tế, sức khỏe ko được nhận nuôi con nuôi.

6 – Lúc vợ chồng ly hôn, con dưới 36 tháng tuổi được ủy quyền người vợ trực tiếp nuôi dưỡng.

Bài tập

Ông H và bà Th kết hôn năm 1985. Hai người mang con chung là A. Giữa họ mang khối tài sản chung trị giá 400 triệu đồng. Năm 1986 ông H mang quan hệ thân thiết với bà M. Tới tháng 01 năm 1987 ông H và bà M bỏ đi khỏi địa phương để cùng nhau chung sống, giữa họ mang 3 con chung. Năm 2015, ông H chết mà ko để lại di chúc.

Hãy xác định phần di sản thừa kế mà ông H để lại. Biết rằng, ông H và bà M tạo dựng được khối tài sản trị giá Một tỷ đồng và công sức đóng góp của hai người là như nhau.


15. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 15

Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai, giảng giải vì sao?

1 – Những người đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật là những người đang mang vợ mang chồng.

2 – Trong chế độ tài sản theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng được sử dụng để phục vụ nhu cầu riêng của bên đó.

3 – Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang thể tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc nuôi con nuôi.

4 – Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ko được kết hôn.

5 – Theo quy định của chế độ tài sản pháp định thì tài sản mà vợ chồng mang được do thừa kế chung là tài sản thuộc sở hữu chung thống nhất của vợ chồng.

6 – Những trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị Tòa án khắc phục hủy lúc mang yêu cầu.

Bài tập

Anh H và chị Y vốn là bạn cùng học chung thời phổ thông với nhau. Theo ý nguyện của gia đình họ đã trở thành vợ chồng sau một lễ cưới với đủ những nghi tiết truyền thống được tiến hành vào ngày 20/3/1986. Cuộc sống chung của anh H và chị Y sau lúc cưới rất hòa thuận, hành phúc.

Do yêu cầu công việc nên tới tháng 6/1995 anh T chuyển tới sinh sống tại một nơi rất xa nhà. Tại đây, anh phát sinh tình cảm với một chị đồng nghiệp là D. Tháng 10/1996 lúc phát hiện mình đang mang thai, chị D gây sức ép để anh T kết hôn với mình. Ngày 30/10/1996, anh T và chị D kết hôn với nhau tại UBND xã nơi trú ngụ của chị D. Và được cơ quan nhà nước này cấp Giấy chứng thực kết hôn.

Tháng 12/2015 lúc chị Y phát hiện ra mối quan hệ giữa anh H và chị D, chị ko thể tha thức sự lừa dối của anh H đối với mình. Tháng 01/2016, chị Y làm đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

Theo anh chị Tòa án khắc phục vụ việc trên như thế nào? Vì sao?


16. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 16

Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở vật chất pháp lý lúc trả lời? (6 điểm)

1 – Người bị thiểu năng trí tuệ ko mang quyền kết hôn.

2 – Hội liên hợp phụ nữ mang quyền yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do bị ép buộc.

3 – Con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mang thể ko phải là con chung của vợ chồng.

4 – Yêu sách của nả trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá quắt và coi đó là điều kiện để kết hôn.

5 – Trong mọi trường hợp, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều phải lập văn bản.

6 – Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ kết thúc kể từ ngày quan hệ con nuôi được xác lập.

Bài tập

Năm 2000, ông Nguyễn Văn Tâm và bà Trần Thị Sự kết hôn. Sau một thời kì chung sống, ông Tâm tới tỉnh TG và chung sống như vợ chồng với chị Lê Văn Tư. Từ thời kì này, ông Tâm tạo lập được với chị Tư 01 mảnh đất trị giá 900 triệu đồng.

Năm 2017, bà Sự vay 100 triệu đồng của người quen biết cùng với số tiền kinh doanh (trong thời kì ông Tâm bỏ đi) sắm được căn nhà tại thành thị trấn H trị giá 600 triệu đồng. Đầu năm 2018, bà Sự vay thêm 300 triệu để sản xuất, kinh doanh.

Tới tháng 11/2018, ông Tâm trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền khắc phục việc ly hôn và chia tài sản là căn nhà tại thành thị trấn H. Ông Tâm cho rằng mình ko mang trách nhiệm gì với bất cứ khoản nợ nào của bà Sự do bà Sự tự xác lập mà ko mang sự thỏa thuận hay đồng ý của ông Tâm.

Nếu anh chị là cơ quan mang thẩm quyền, hãy khắc phục những yêu cầu của ông Tâm.


17. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 17

Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở vật chất pháp lý lúc trả lời? (6 điểm)

1 – Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ko mang quyền kết hôn.

2 – Hội liên hợp phụ nữ Việt Nam mang quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện.

3 – Nam nữ sống chung như vợ chồng mang thể được pháp luật xác nhận là vợ chồng.

4 – Nam nữ mang thể ủy quyền cho cha mẹ mình đăng ký kết hôn.

5 – Người chưa thành niên mới được nhận là con nuôi.

6 – Quan hệ vợ, chồng kết thúc kể từ thời khắc quyết định tuyên một bên vợ hoặc chồng đã chết của Tòa án mang hiệu lực pháp luật.

Bài tập

Ông Giang và bà Lan cưới năm 1985 nhưng ko đi đăng ký kết hôn. Lúc tổ chức lễ cưới, hai bên ko vi phạm điều kiện kết hôn. Tới tháng 06/2018 ông Giang và bà Lan phát sinh tranh chấp do bà Lan ko mang khả năng sinh con nên ông Giang nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông với bà Lan với lý do ông bà ko đăng ký kết hôn. Hỏi:

1 – Tòa án mang thẩm quyền khắc phục trường hợp trên như thế nào?.

2 – Nếu bà Lan yêu cầu chia khối tài sản chung trị giá Hai tỷ đồng thì Tòa sẽ khắc phục như thế nào?.


18. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 18

Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở vật chất pháp lý lúc trả lời? (6 điểm)

1 – Tội nhân đang chấp hành án phạt tù tại những cơ sở vật chất giam giữ cũng mang quyền kết hôn.

2 – Việc kết hôn ko thể ủy quyền cho người khác thực hiện

3 – Chỉ Ủy ban nhân dân cấp quận mới mang thẩm quyền đăng ký việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài.

4 – Trong chế độ tài sản pháp định, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ hoặc chồng trong trong thời kỳ hôn nhân phải được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

5 – Khắc phục xác định con sinh ra sau lúc hôn nhân kết thúc quá 300 ngày mang thể thuộc thẩm quyền của cơ quan đăng ký hộ tịch.

6 – Lúc người vợ mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì vợ chồng ko mang quyền yêu cầu ly hôn.

Bài tập

Đủ điều kết hôn theo Luật HNGĐ năm 1959 nhưng ông Tuấn và bà Lê chỉ chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1986 mà ko đăng ký kết hôn.

Chung sống tới tháng 04/2017, do tranh chấp trầm trọng, ông Tuấn nộp đơn yêu cầu Tòa án “hủy hôn nhân trái pháp luật” giữa ông và bà Lê với lý do hai bên ko đăng ký kết hôn.

Anh, chị hãy cho biết:

1 – Tòa án mang thẩm quyền “hủy hôn nhân trái pháp luật” giữa ông Tuấn với bà Lê hay khắc phục việc kết thúc quan hệ vợ chồng của họ, cơ sở vật chất pháp lý?

2 – Tài sản của ông Tuấn, bà lê phân định như thế nào cho thích hợp ý thức pháp luật, biết rằng tại thời khắc Tòa án khắc phục vụ án, ông Tuấn, bà Lê tranh chấp 100m2 đất trị giá 1.5 tỷ đồng tọa lạc tại quận PL, tỉnh TH; diện tích đất này do ông Tuấn nhận chuyển nhượng bằng tiền lương của ông vào tháng 02/2016 và Giấy chứng thực quyền sử dụng đất do ông Tuấn đứng tên.


19. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 19

Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở vật chất pháp lý lúc trả lời? (6 điểm)

1 – Những người cùng nam nữ thì ko được kết hôn với nhau.

2 – Người được nhận làm con nuôi phải là người mang độ tuổi dưới 15 tuổi.

3 – Những bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân mang đăng ký kết hôn thì lúc xin ly hôn Tòa án sẽ khắc phục ly hôn.

4 – Quan hệ tài sản của vợ chồng luôn chịu sự điều chỉnh của pháp luật hôn nhân và gia đình.

5 – Một bên vợ (chồng), người bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về, người chồng (vợ) của họ chưa kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân đương nhiên được khôi phục.

6 – Một bên vợ (chồng) bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì bên chồng (vợ) còn lại sẽ là người đại diện cho người đó.

Bài tập

Anh An và chị Khánh xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp ngày 12/06/2006. Sau một thời kì chung sống anh chị ko thể sinh con chung vì anh An bị vô sinh. Cả nhà quyết định nhận con nuôi. Vợ chồng anh An chị Khánh tiến hành đầy đủ những thủ tục nhận cháu Chính (là con chung của anh Hà và chị Thanh) làm con nuôi chung của vợ vợ chồng.

Sau lúc cháu Chính chuyển về sống chung cùng anh An và chị Khánh Một tháng thì anh Hà chị Thanh sang nhà anh An chị Khánh đòi lại con vì anh chị ko thể sống xa cháu. Anh An chị Khánh ko đồng ý trả con cho anh Hà chị Thanh. Cha mẹ ruột cháu Chính làm đơn yêu cầu Tòa án buộc anh Cả nhà Khánh trả con cho mình.

Theo những anh (chị) Tòa án khắc phục vụ việc như thế nào? Vì sao?.


20. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 20

Nhận định

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở vật chất pháp lý lúc trả lời? (6 điểm)

1 – Quan hệ hôn nhân chỉ được xác lập từ ngày những bên nam nữ thực hiện xong thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước mang thẩm quyền.

2 – Hội Liên hợp phụ nữ mang quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật.

3 – Chế độ tài sản pháp định xác định lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.

4 – Tài sản theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu, trong Giấy chứng thực quyền sở hữu chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chồng thì được xác định là tài sản riêng của bên đó.

5 – Con chung của vợ chồng trong trường hợp quan hệ cha mẹ con được xác lập dựa vào sự kiện sinh nở là con mang cùng huyết thống với cha và mẹ.

6 – Người thứ ba (cha, mẹ hoặc người thân thích khác của vợ hoặc chồng) mang quyền yêu cầu Tòa án khắc phục ly hôn lúc bên vợ, chồng đó bị mất năng lực hành vi dân sự.

Bài tập

Ông Kiên và bà Duyên sống chung với nhau như vợ chồng mà ko đăng ký kết hôn từ ngày 02/06/1982.

Hai ông bà mang hai ngươi fcon chung là anh Quyền và chị Hà đều đã đạt tuổi thành niên.

Tài sản mà ông bà tạo lập được trong quá trình sống chung gồm căn nhà cấp bốn năm trong diện tích đất 3000m2, trị giá cả nhà và đất khoảng 1,5 tỷ đồng và một số tài sản là động sản khác mang trị giá khoảng 500 triệu đồng.

Vào thời kì cuối năm 2018, ông Kiên và bà Duyên phát sinh tranh chấp trầm trọng. Ông Kiên làm đơn yêu cầu Tòa án ra quyết định ko xác nhận ông bà là vợ chồng vì họ sống chung ko đăng ký kết hôn.

Không những thế, ông cho rằng tài sản là nhà ở và quyền sử dụng đất mang diện tích 3000m2 là tài sản riêng của ông do Giấy chứng thực quyền sở hữu nhà và giấy chứng thực quyền sử dụng đất chỉ ghi tên ông. Ông đưa ra yêu cầu Tòa án ko chia phần tài sản này cho bà Duyên. Phần tài sản là động sản mang trị giá 500 triệu, ông đồng ý chuyển cho bà Duyên.

Bà Duyên cũng thể hiện ý muốn Tòa án khắc phục việc ko xác nhận ông bà là vợ chồng nhưng bà ko đồng ý với cách khắc phục chia tài sản của ông Kiên, bà cho rằng bà mang nhiều công sức đóng góp với khối tài sản nhà đất. Bà yêu cầu Tòa án chia đôi tài sản cho bà và ông Kiên.

Theo anh (chị) Tòa án khắc phục vụ việc trên như thế nào? Vì sao?./.


21. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 21

Nhận định

Trả lời đúng sai kèm theo giảng giải, nêu rõ cơ sở vật chất pháp lý những nhận định sau (6 điểm)

1 – Quan hệ hôn nhân hợp pháp được thiết lập lúc những bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân thực hiện việc đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật.

2 – Chú ruột mang nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu ruột lúc họ sống chung với nhau.

3 – Chế độ tài sản theo luật định được vận dụng chỉ lúc vợ chồng ko lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận.

4 – Trong chế độ tài sản theo luật định thì tài sản chung của vợ chồng phải được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

5 – Lúc Tòa án khắc phục việc giao con cho vợ (chồng) nuôi trong trường hợp vợ chồng ly hôn, nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì Tòa án khắc phục dựa trên nguyện vọng của người con này.

6 – Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi mang thể kết thúc việc nuôi con nuôi trên cơ sở vật chất tự nguyện của người con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi.

Bài tập

Ông Hung và bà Bé chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 15/10/1987 mà ko đăng ký kết hôn. Năm 1989, hai ông bà cùng quyết định sắm một căn nhà cấp bốn nhỏ với diện tích 45m2 trên miếng đất diện tích là 80m2.

Năm 1993, mẹ ông Hùng qua đời, ông được thừa kế số tiền 250 triệu đồng. Ông Hùng sử dụng số tiền nhận được này để xây lại ngôi nhà 3 tầng lầu trên toàn bộ diện tích miếng đất 80m2 tại liên hệ số 34/2, thị trấn X, quận Y, thành thị trấn H để ông Hùng, bà Bé và hai người con của họ cùng ở.

Năm 1994, ông Hùng và bà Bé được UBND phường nơi ông Hùng thường trú cấp Giấy chứng thực đăng ký kết hôn.

Đầu năm 2015 giữa ông Hùng và bà Bé phát sinh nhiều tranh chấp trầm trọng và bà Bé đã nộp đơn ra Tòa án yêu cầu khắc phục ly hôn và chia tài sản.

Ông bà tranh chấp với nhau về căn nhà liên hệ số 34/2, thị trấn X, quận Y, thành thị trấn H.

Cả nhà hãy sử dụng quy định của pháp luật để xác định hình thức sở hữu của căn nhà và cách chia tài sản này nếu Tòa án khắc phục ly hôn cho ông Hùng và bà Bé./.


22. Đề thi môn Luật Hôn nhân gia đình số 22

Nhận định

Nhận định đúng sai, giảng giải dựa trên cơ sở vật chất pháp lý (6 điểm)

1/ Đối với ly hôn, ko vận dụng chế độ đại diện trong việc yêu cầu Tòa án khắc phục việc ly hôn.

2/ Sau lúc ly hôn, nếu một bên vợ, chồng khó khăn, túng thiếu, mang yêu cầu cấp dưỡng và mang lý do chính đáng thì bên kia mang nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình.

3/ Lúc con nuôi mang hành vi xâm phạm tính mệnh, sức khỏe, phẩm giá, danh dự của cha mẹ nuôi và mang yêu cầu của cha, mẹ thì Tòa án cho kết thúc việc nuôi con nuôi.

4/ Người đang mang vợ hoặc chồng phải là người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn.

5/ Cha mẹ là người giám hộ của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

6/ Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân làm kết thúc chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

Bài tập

Nhà băng Z nhận thế chấp quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T (bà T đứng tên một mình trên sổ đỏ) đồng ý thế chấp cho nhà băng đảm bảo cho khoản vay của Đơn vị A. Quyền sử dụng đất đứng tên bà T là tài sản do bà T và người chồng đã chết nhận chuyển nhượng của người khác. Bà T mang một người con gái duy nhất là chị H (30 tuổi) đang định cư ở nước ngoài. Sau lúc rà soát, nhà băng Z chấp nhận tài sản thế chấp của bà T đối với Đơn vị A và tiến hành giải ngân theo hợp đồng tín dụng đã ký.

Do Đơn vị A làm ăn thua lỗ và mất khả năng trả tiền, nên việc thu nợ của Nhà băng Z dựa vào tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của bà T. Trong quá trình xử lý tài sản của bà T thì cô H đang định cư tại nước ngoài về Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng thế chấp ký giữa Nhà băng Z và bà T vô hiệu vì tài sản thế chấp là tài sản chung giữa bà T và cô H (cô H được thừa kế một phần tài sản của cha).

Theo anh chị, Tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng thế chấp trên vô hiệu toàn bộ hay một phần? Vì sao?./.


--- Cập nhật: 25-01-2023 --- edu.dinhthienbao.com tìm được thêm bài viết Tổng hợp đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình (có đáp án) từ website hocluat.vn cho từ khoá giải bài tập hôn nhân gia đình.

[Hocluat.vn] Tổng hợp đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình (mang gợi ý đáp án) của trường Đại học luật TP.Hồ Chí Minh. Xin san sẻ để những bạn tham khảo: 

Những nội dung liên quan:

  • 69 nghi vấn nhận định đúng sai luật hôn nhân và gia đình 
  • Những nghi vấn ôn tập, bài tập tình huống môn luật hôn nhân và gia đình
  • Tổng hợp văn bản hướng dẫn Luật hôn nhân gia đình 2014

Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình

ĐỀ THI SỐ 1

Thời kì làm bài: 60 Phút

(Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản pháp luật)

I. Phần nhận định (6 điểm)

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Giảng giải vì sao? Nêu căn cứ pháp lý lúc trả lời!

Nhận định 1. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ko mang quyền kết hôn.

Căn cứ pháp lý: Điều 5 và Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nhận định 2. Hội liên hợp phụ nữ Việt Nam mang quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện.

Căn cứ pháp lý: điểm b, khoản 1, Điều 8; khoản Một và điểm d, khoản 2, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 3. Nam nữ sống chung như vợ chồng mang thể được pháp luật xác nhận là vợ chồng.

Lưu ý, quan hệ kết hôn trong trường hợp này được xác lập kể từ thời khắc đăng ký kết hôn chứ ko phải tính từ thời khắc nam nữ sống chung như vợ chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 14, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nhận định 4. Nam nữ mang thể ủy quyền cho cha mẹ mình đăng ký kết hôn.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 6, Luật Hộ tịch 2014.

Nhận định 5. Người chưa thành niên mới được nhận là con nuôi.

Do đó, chỉ người chưa thành niên mới được nhận là con nuôi.

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 21, Bộ luật dân sự 2015 và khoản 1, khoản 2, Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010.

Nhận định 6. Quan hệ vợ, chồng kết thúc kể từ thời khắc quyết định tuyên một bên vợ hoặc chồng đã chết của Tòa án mang hiệu lực pháp luật.

Căn cứ pháp lý: đoạn 2, Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

II. Phần bài tập tình huống (4 điểm)

Ông Giang và bà Lan cưới năm 1985 nhưng ko đi đăng ký kết hôn. Lúc tổ chức lễ cưới, hai bên ko vi phạm điều kiện kết hôn. Tới tháng 06/2018 ông Giang và bà Lan phát sinh tranh chấp do bà Lan ko mang khả năng sinh con nên ông Giang nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông với bà Lan với lý do ông bà ko đăng ký kết hôn. Hỏi:

Thắc mắc 1. Tòa án mang thẩm quyền khắc phục trường hợp trên như thế nào?

Gợi ý đáp án:

Do ông Giang và bà Lan sống chung như vợ chồng với nhau từ năm 1985 đây là trường hợp hôn nhân thực tế nên mặc dù tới nay ông Giang và bà Lan chưa đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này, theo hướng dẫn tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hộ tịch 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Giang và bà Lan được xác nhận hai ông bà xác lập quan hệ sống chung với nhau như vợ chồng. Nói cách khác, ông Giang và bà Lan là vợ chồng hợp pháp, quan hệ hôn nhân ko trái quy định của pháp luật.

Do việc kết hôn của ông Giang và bà Lan là đúng pháp luật nên Tòa án bác bỏ đơn yêu cầu của ông Giang về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Trong trường hợp trên, nếu ông Giang vẫn muốn kết thúc quan hệ hôn nhân với bà Lan thì phải khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ly hôn với bà Lan.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 44, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Thắc mắc 2. Nếu bà Lan yêu cầu chia khối tài sản chung trị giá Hai tỷ đồng thì Tòa sẽ khắc phục như thế nào?

Gợi ý đáp án:

Nguyên tắc Tòa chỉ khắc phục trong phạm vi khởi kiện: Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án chỉ khắc phục trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Do đó, nếu bà Lan mang yêu cầu chia  khối tài sản chung nêu trên thì Tòa án sẽ thụ lý khắc phục và chỉ khắc phục trong phạm vi yêu cầu chia khối tài sản chung của bà Lan.

Khắc phục việc chia khối tài sản chung trên.

Do ông Giang và bà Lan vẫn trong thời kỳ hôn nhân nên việc chia tài sản chung vận dụng những nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân quy định tại Điều 38 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nếu ông Giang và bà Lan tự thỏa thuận được việc chia khối tài sản chung trị giá 02 tỷ thì tuân theo sự thỏa thuận của những bên.

Nếu ông Giang và bà Lan ko tự thỏa thuận được việc chia khối tài sản chung trên thì Tòa án sẽ khắc phục việc chia khối tài sản chung trên nhưng về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi (mỗi người 01 tỉ) nhưng mang tính tới công sức đóng góp của những bên vợ, chồng, lỗi của những bên, hoàn cảnh của những bên vợ chồng,… theo quy định tại khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Căn cứ pháp lý: Điều 38 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

ĐỀ THI SỐ 2

Thời kì: 60 phút

(Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản pháp luật)

I. Phần nhận định (6 điểm)

Trả lời đúng sai, kèm theo giảng giải, nêu cơ sở vật chất pháp lý những nhận định sau:

Nhận định 1. Những người đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật là những người đang mang vợ mang chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản 14, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 2. Trong chế độ tài sản theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng chỉ được sử dụng để phục vụ nhu cầu riêng của bên đó.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 3. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang thể tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc nuôi con nuôi.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 25, Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về Căn cứ kết thúc việc nuôi con nuôi thì Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang quyền tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc quan hệ nuôi con nuôi. Do đó, Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang thể tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc nuôi con nuôi.

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 25, Luật Nuôi con nuôi 2010.

Nhận định 4. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ko được kết hôn.

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 5.  Theo quy định của chế độ tài sản pháp định thì tài sản mà vợ chồng mang được do thừa kế chung là tài sản thuộc sở hữu chung thống nhất của vợ chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và khoản 2, Điều 33, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 6. Những trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị Tòa án khắc phục hủy lúc mang yêu cầu.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 11, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

II. Phần bài tập tình huống (4 điểm)

Anh H và chị Y vốn là bạn cùng học chung thời phổ thông với nhau. Theo ý nguyện của gia đình họ đã trở thành vợ chồng sau một lễ cưới với đủ những nghi tiết truyền thống được tiến hành vào ngày 20/3/1986. Cuộc sống chung của anh H và chị Y sau lúc cưới rất hòa thuận, hạnh phúc.

Do yêu cầu công việc nên tới tháng 6/1995 anh T chuyển tới sinh sống tại một nơi rất xa nhà. Tại đây, anh phát sinh tình cảm với một chị đồng nghiệp là D. Tháng 10/1996, lúc phát hiện ra mình đang mang thai, chị D gây sức ép để anh T kết hôn với minh.

Ngày 30/10/1996, anh T và chị D kết hôn với nhau tại UBND xã nơi trú ngụ của chị D và được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng thực kết hôn.

Tháng 12/2015, lúc chị Y phát hiện ra mối quan hệ giữa anh H và chị D, chị ko thể tha thứ sự lừa dối của anh H đối với mình. Tháng 01/2016, chị Y làm đơn yêu cầu Tòa án khắc phục cho chị được ly hôn với anh H. Đồng thời chị Y cũng làm đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

Theo anh chị, Tòa án khắc phục vụ việc trên như thế nào? Vì sao?

Gợi ý đáp án:

Xác định anh H và chị Y mang quan hệ hôn nhân hay ko?

Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 2, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì do anh H và chị Y kết hôn năm 1986 mặc dù chỉ tổ chức lễ cưới theo phương thức truyền thống (lễ cưới) và chưa đăng ký kết hôn nhưng vẫn được xem là kết hôn hợp pháp theo quy định và ông H và chị Y hiện tại được xem là người đang mang vợ, chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản 4 Điều Hai Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

Tòa án khắc phục yêu cầu chị Y về việc cho chị ly hôn với anh H như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 51, Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì chị Y mang quyền yêu cầu Tòa án khắc phục yêu cầu ly hôn của chị với anh H.

Căn cứ theo quy định tại Điều 53, Luật Hôn nhân gia đình 2014 Tòa án sẽ thụ lý khắc phục yêu cầu của chị Y theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp anh H cũng đồng ý ly hôn với chị Y, anh H và chị Y thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung của vợ chồng và thực hiện những nghĩa vụ tài sản khác (những bên ko mang tranh chấp) thì vụ việc được khắc phục theo thủ tục khắc phục việc thuận tình ly hôn. Tòa án ra quyết định xác nhận thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật.

Căn cứ pháp lý: Điều 55, Luật Hôn nhân gia đình 2014.

Trường hợp anh H ko đồng ý ly hôn với chị Y hoặc anh H và chị Y ko thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung của vợ chồng và thực hiện những nghĩa vụ tài sản khác thì Tòa án thụ lý vụ án ly hôn và khắc phục theo quy định.

Căn cứ pháp lý: Khoản 5, Điều 397 Luật Tố tụng dân sự 2015.

Tòa án khắc phục yêu cầu chị Y về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh H và chị D như thế nào?

Gợi ý đáp án:

Căn cứ theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 5 và điểm d, khoản 1, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì do chị Y và anh H đang là vợ chồng hợp pháp (chưa dù ko đăng ký kết hôn) nên việc anh H kết hôn với chị D là việc kết hôn trái pháp luật do lúc kết hôn với chị D anh H là người đang mang vợ.

Căn cứ tại điểm a, khoản 1, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về những người mang quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì do chị Y đang là vợ của anh H nên mang quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

Theo đó, nếu đủ căn cứ Tòa án mang thẩm quyền sẽ ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Kết luận: Tòa án sẽ thụ ý vụ việc ra Bản án ly hôn khắc phục việc ly hôn của anh H và chị Y và hủy bỏ việc kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

ĐỀ THI SỐ 3

Thời kì làm bài: 60 phút

Sinh viên được sử dụng VBQPPL

I. Phần nhận định (6 điểm)

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu cơ sở vật chất pháp lý lúc trả lời.

Nhận định 1. Người bị thiểu năng trí tuệ ko mang quyền kết hôn.

Người bị thiểu năng trí tuệ nếu ko bị Tòa án mang thẩm quyền tuyên mất năng lực hành vi dân sự (Với thể tuyên bị hạn chế năng lực hành vi) thì người bị thiểu năng trí tuệ ko bị xem là bị mất năng lực hành vi nên mang quyền kết hôn theo quy định (khoản 1, Điều 22 Bộ luật dân sự 2015).

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 và điểm c khoản Một Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 2. Hội liên hợp phụ nữ mang quyền yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do bị ép buộc.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và điểm d, khoản 2, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 3. Con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mang thể ko phải là con chung của vợ chồng.

Gợi ý đáp án:

Căn cứ theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời khắc con được sinh ra. Do đó, trong trường hợp mang thai hộ vi mục đích nhân đạo thì con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mang thể ko phải là con chung của vợ chồng mà là con của vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và điểm d, khoản 2, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 4. Yêu sách của nả trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá quắt và coi đó là điều kiện để kết hôn.

Căn cứ theo quy định tại khoản 12, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giảng giải từ ngữ Yêu sách của nả trong kết hôn thì Yêu sách của nả trong hôn nhân là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá quắt và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ. Trường hợp những đòi hỏi về vật chất quá quắt này ko nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ thì ko được xem là Yêu sách của nả trong hôn nhân.

Căn cứ pháp lý: khoản 12, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 5. Trong mọi trường hợp, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều phải lập văn bản.

Căn cứ theo quy định tại khoản Một và khoản 2, Điều 45, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng, mang thể ko cần lập văn bản. Tuy nhiên, trong trường hợp việc giao dịch tới tài sản đó phải tuân thủ hình thức theo quy định của pháp luật như việc nhập tài sản là bất động sản là tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung của vợ và chồng thì thỏa thuận này yêu cầu phải lập thành văn bản.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và khoản 2, Điều 45, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 6. Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ kết thúc kể từ ngày quan hệ con nuôi được xác lập.

Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về Hệ quả của việc nuôi con nuôi thì: Trừ trường hợp cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi mang thỏa thuận khác, nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ kết thúc kể từ ngày quan hệ con nuôi được xác lập. Do đó, nếu giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi thỏa thuận việc cha mẹ đẻ vẫn duy trì nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa cha mẹ đẻ và người được nhận làm con nuôi thì nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ ko bị kết thúc.

Căn cứ pháp lý: khoản 4, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010.

II. Phần bài tập tình huống (4 điểm)

Năm 2000, ông Nguyễn Văn Tâm và bà Trần Thị Sự kết hôn. Sau một thời kì chung sống, ông Tâm tới tỉnh TG và chung sống như vợ chồng với chị Lê Văn Tư. Từ thời kì này, ông Tâm tạo lập được với chị Tư 01 mảnh đất trị giá 900 triệu đồng.

Năm 2017, bà Sự vay 100 triệu đồng của người quen biết cùng với số tiền kinh doanh (trong thời kì ông Tâm bỏ đi) sắm được căn nhà tại thành thị trấn H trị giá 600 triệu đồng. Đầu năm 2018, bà Sự vay thêm 300 triệu để sản xuất, kinh doanh.

Tới tháng 11/2018, ông Tâm trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền khắc phục việc ly hôn và chia tài sản là căn nhà tại thành thị trấn H. Ông Tâm cho rằng mình ko mang trách nhiệm gì với bất cứ khoản nợ nào của bà Sự do bà Sự tự xác lập mà ko mang sự thỏa thuận hay đồng ý của ông Tâm.

Nếu anh chị là cơ quan mang thẩm quyền, hãy khắc phục những yêu cầu của ông Tâm.

Gợi ý đáp án:

Yêu cầu khắc phục việc ly hôn của ông Tâm.

Căn cứ theo quy định tại khoản Một và khoản 3, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Quyền yêu cầu khắc phục ly hôn thì ông Tâm mang quyền yêu cầu Tòa án khắc phục ly hôn.

Tòa án mang thẩm quyền thụ lý vụ việc và khắc phục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. (Điều 53 và Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

Căn cứ pháp lý: khoản Một và khoản 3, Điều 51, Điều 53 và Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Yêu cầu chia tài sản chung của ông Tâm

Những tài sản chung của ông Tâm và bà Sự được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân gồm: phần tài sản của ông Tâm và chị Tư trị giá 450 triệu đồng (900 triệu / 2), 01 căn nhà trị giá khoảng 600 triệu đồng. Nghĩa vụ về tài sản là số tiền 300 triệu đồng.

Trường hợp trên nếu ông Tâm và bà Sự thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung thì tài sản chung được chia theo thỏa thuận của những bên.

Trong trường hợp ông Tâm và bà Sự ko thỏa thuận được với nhau hoặc việc thỏa thuận ko đầy đủ hoặc ko rõ ràng về việc chia tài sản chung thì việc chia tài sản tuân thủ khắc phục tài sản của vợ chồng lúc ly hôn theo quy định tại những điều từ Điều 59 tới Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và những quy định về chia tài sản Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tại sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng mang tính tới những yếu tố được liệt kê tại khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng,… Với thể thấy đối với tài sản chung là căn nhà trị giá 600 triệu của bà Sự thì công sức đóng góp của bà Sự là nhiều hơn, tương tự với phần tài sản ông Tâm tạo lập được với bà Tư thì công sức của ông Tâm nhiều hơn.

Về nghĩa vụ về tài sản, số tiền 100 triệu đồng bà Sự vay để sắm căn nhà trên là nghĩa vụ chung của cả ông Tâm và bà Sự do số tiền này góp phần tạo lập nên tài sản chung. Do đó, ông Tâm mang trách nhiệm cùng bà Sự liên đới chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ về tài sản này. Việc ông Tâm cho rằng mình ko mang trách nhiệm gì với bất cứ khoản nợ nào là ko chuẩn xác.

Còn số tiền 200 triệu đồng mà bà Sự vay để kinh doanh riêng ko thuộc những trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên bà Sự phải tự chịu trách nhiệm với phần nghĩa vụ tài sản này.


Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *