Tổng hợp đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình (có đáp án)

[Hocluat.vn] Tổng hợp đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình (mang gợi ý đáp án) của trường Đại học luật TP.Hồ Chí Minh. Xin san sớt để những bạn tham khảo: 

Những nội dung liên quan:

  • 69 nghi vấn nhận định đúng sai luật hôn nhân và gia đình 
  • Những nghi vấn ôn tập, bài tập tình huống môn luật hôn nhân và gia đình
  • Tổng hợp văn bản hướng dẫn Luật hôn nhân gia đình 2014

Đề thi môn Luật Hôn nhân và gia đình

ĐỀ THI SỐ 1

Thời kì làm bài: 60 Phút

(Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản pháp luật)

I. Phần nhận định (6 điểm)

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Giảng giải vì sao? Nêu căn cứ pháp lý lúc trả lời!

Nhận định 1. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự ko mang quyền kết hôn.

Căn cứ pháp lý: Điều 5 và Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nhận định 2. Hội liên hợp phụ nữ Việt Nam mang quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do vi phạm sự tự nguyện.

Căn cứ pháp lý: điểm b, khoản 1, Điều 8; khoản Một và điểm d, khoản 2, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 3. Nam nữ sống chung như vợ chồng mang thể được pháp luật xác nhận là vợ chồng.

Lưu ý, quan hệ kết hôn trong trường hợp này được xác lập kể từ thời khắc đăng ký kết hôn chứ ko phải tính từ thời khắc nam nữ sống chung như vợ chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 14, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nhận định 4. Nam nữ mang thể ủy quyền cho cha mẹ mình đăng ký kết hôn.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 6, Luật Hộ tịch 2014.

Nhận định 5. Người chưa thành niên mới được nhận là con nuôi.

Do đó, chỉ người chưa thành niên mới được nhận là con nuôi.

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 21, Bộ luật dân sự 2015 và khoản 1, khoản 2, Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010.

Nhận định 6. Quan hệ vợ, chồng kết thúc kể từ thời khắc quyết định tuyên một bên vợ hoặc chồng đã chết của Tòa án mang hiệu lực pháp luật.

Căn cứ pháp lý: đoạn 2, Điều 65 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

II. Phần bài tập tình huống (4 điểm)

Ông Giang và bà Lan cưới năm 1985 nhưng ko đi đăng ký kết hôn. Lúc tổ chức lễ cưới, hai bên ko vi phạm điều kiện kết hôn. Tới tháng 06/2018 ông Giang và bà Lan phát sinh tranh chấp do bà Lan ko mang khả năng sinh con nên ông Giang nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của ông với bà Lan với lý do ông bà ko đăng ký kết hôn. Hỏi:

Thắc mắc 1. Tòa án mang thẩm quyền khắc phục trường hợp trên như thế nào?

Gợi ý đáp án:

Do ông Giang và bà Lan sống chung như vợ chồng với nhau từ năm 1985 đây là trường hợp hôn nhân thực tế nên mặc dù tới nay ông Giang và bà Lan chưa đăng ký kết hôn. Trong trường hợp này, theo hướng dẫn tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hộ tịch 2014 và Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa ông Giang và bà Lan được xác nhận hai ông bà xác lập quan hệ sống chung với nhau như vợ chồng. Nói cách khác, ông Giang và bà Lan là vợ chồng hợp pháp, quan hệ hôn nhân ko trái quy định của pháp luật.

Do việc kết hôn của ông Giang và bà Lan là đúng pháp luật nên Tòa án chưng đơn yêu cầu của ông Giang về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Trong trường hợp trên, nếu ông Giang vẫn muốn kết thúc quan hệ hôn nhân với bà Lan thì phải khởi kiện ra Tòa án yêu cầu ly hôn với bà Lan.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 44, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Thắc mắc 2. Nếu bà Lan yêu cầu chia khối tài sản chung trị giá Hai tỷ đồng thì Tòa sẽ khắc phục như thế nào?

Gợi ý đáp án:

Nguyên tắc Tòa chỉ khắc phục trong phạm vi khởi kiện: Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án chỉ khắc phục trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Do đó, nếu bà Lan mang yêu cầu chia  khối tài sản chung nêu trên thì Tòa án sẽ thụ lý khắc phục và chỉ khắc phục trong phạm vi yêu cầu chia khối tài sản chung của bà Lan.

Khắc phục việc chia khối tài sản chung trên.

Do ông Giang và bà Lan vẫn trong thời kỳ hôn nhân nên việc chia tài sản chung vận dụng những nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân quy định tại Điều 38 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Nếu ông Giang và bà Lan tự thỏa thuận được việc chia khối tài sản chung trị giá 02 tỷ thì tuân theo sự thỏa thuận của những bên.

Nếu ông Giang và bà Lan ko tự thỏa thuận được việc chia khối tài sản chung trên thì Tòa án sẽ khắc phục việc chia khối tài sản chung trên nhưng về nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng được chia đôi (mỗi người 01 tỉ) nhưng mang tính tới công sức đóng góp của những bên vợ, chồng, lỗi của những bên, hoàn cảnh của những bên vợ chồng,… theo quy định tại khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Căn cứ pháp lý: Điều 38 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

ĐỀ THI SỐ 2

Thời kì: 60 phút

(Sinh viên chỉ được sử dụng văn bản pháp luật)

I. Phần nhận định (6 điểm)

Trả lời đúng sai, kèm theo giảng giải, nêu hạ tầng pháp lý những nhận định sau:

Nhận định 1. Những người đã đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật là những người đang mang vợ mang chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản 14, Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 2. Trong chế độ tài sản theo quy định của pháp luật thì tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng chỉ được sử dụng để phục vụ nhu cầu riêng của bên đó.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 3. Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang thể tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc nuôi con nuôi.

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 25, Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về Căn cứ kết thúc việc nuôi con nuôi thì Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang quyền tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc quan hệ nuôi con nuôi. Do đó, Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên mang thể tự thỏa thuận với nhau về việc kết thúc nuôi con nuôi.

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 25, Luật Nuôi con nuôi 2010.

Nhận định 4. Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự ko được kết hôn.

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 8, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 5.  Theo quy định của chế độ tài sản pháp định thì tài sản mà vợ chồng mang được do thừa kế chung là tài sản thuộc sở hữu chung thống nhất của vợ chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và khoản 2, Điều 33, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 6. Những trường hợp kết hôn trái pháp luật đều bị Tòa án khắc phục hủy lúc mang yêu cầu.

Căn cứ pháp lý: khoản 2, Điều 11, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

II. Phần bài tập tình huống (4 điểm)

Anh H và chị Y vốn là bạn cùng học chung thời phổ thông với nhau. Theo ý nguyện của gia đình họ đã trở thành vợ chồng sau một lễ cưới với đủ những nghi tiết truyền thống được tiến hành vào ngày 20/3/1986. Cuộc sống chung của anh H và chị Y sau lúc cưới rất hòa thuận, hạnh phúc.

Do yêu cầu công việc nên tới tháng 6/1995 anh T chuyển tới sinh sống tại một nơi rất xa nhà. Tại đây, anh phát sinh tình cảm với một chị đồng nghiệp là D. Tháng 10/1996, lúc phát hiện ra mình đang mang thai, chị D gây sức ép để anh T kết hôn với minh.

Ngày 30/10/1996, anh T và chị D kết hôn với nhau tại UBND xã nơi trú ngụ của chị D và được cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng thực kết hôn.

Tháng 12/2015, lúc chị Y phát hiện ra mối quan hệ giữa anh H và chị D, chị ko thể tha thứ sự lừa dối của anh H đối với mình. Tháng 01/2016, chị Y làm đơn yêu cầu Tòa án khắc phục cho chị được ly hôn với anh H. Đồng thời chị Y cũng làm đơn yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

Theo anh chị, Tòa án khắc phục vụ việc trên như thế nào? Vì sao?

Gợi ý đáp án:

Xác định anh H và chị Y mang quan hệ hôn nhân hay ko?

Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 2, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP thì do anh H và chị Y kết hôn năm 1986 mặc dù chỉ tổ chức lễ cưới theo phương thức truyền thống (lễ cưới) và chưa đăng ký kết hôn nhưng vẫn được xem là kết hôn hợp pháp theo quy định và ông H và chị Y hiện tại được xem là người đang mang vợ, chồng.

Căn cứ pháp lý: khoản 4 Điều Hai Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP.

Tòa án khắc phục yêu cầu chị Y về việc cho chị ly hôn với anh H như thế nào?

Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 51, Luật Hôn nhân gia đình 2014 thì chị Y mang quyền yêu cầu Tòa án khắc phục yêu cầu ly hôn của chị với anh H.

Căn cứ theo quy định tại Điều 53, Luật Hôn nhân gia đình 2014 Tòa án sẽ thụ lý khắc phục yêu cầu của chị Y theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trường hợp anh H cũng đồng ý ly hôn với chị Y, anh H và chị Y thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung của vợ chồng và thực hiện những nghĩa vụ tài sản khác (những bên ko mang tranh chấp) thì vụ việc được khắc phục theo thủ tục khắc phục việc thuận tình ly hôn. Tòa án ra quyết định xác nhận thuận tình ly hôn theo quy định của pháp luật.

Căn cứ pháp lý: Điều 55, Luật Hôn nhân gia đình 2014.

Trường hợp anh H ko đồng ý ly hôn với chị Y hoặc anh H và chị Y ko thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung của vợ chồng và thực hiện những nghĩa vụ tài sản khác thì Tòa án thụ lý vụ án ly hôn và khắc phục theo quy định.

Căn cứ pháp lý: Khoản 5, Điều 397 Luật Tố tụng dân sự 2015.

Tòa án khắc phục yêu cầu chị Y về việc hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh H và chị D như thế nào?

Gợi ý đáp án:

Căn cứ theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 5 và điểm d, khoản 1, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì do chị Y và anh H đang là vợ chồng hợp pháp (chưa dù ko đăng ký kết hôn) nên việc anh H kết hôn với chị D là việc kết hôn trái pháp luật do lúc kết hôn với chị D anh H là người đang mang vợ.

Căn cứ tại điểm a, khoản 1, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về những người mang quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật thì do chị Y đang là vợ của anh H nên mang quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

Theo đó, nếu đủ căn cứ Tòa án mang thẩm quyền sẽ ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Kết luận: Tòa án sẽ thụ ý vụ việc ra Bản án ly hôn khắc phục việc ly hôn của anh H và chị Y và hủy bỏ việc kết hôn trái pháp luật của anh H và chị D.

ĐỀ THI SỐ 3

Thời kì làm bài: 60 phút

Sinh viên được sử dụng VBQPPL

I. Phần nhận định (6 điểm)

Những nhận định sau đây đúng hay sai? Vì sao? Nêu hạ tầng pháp lý lúc trả lời.

Nhận định 1. Người bị thiểu năng trí tuệ ko mang quyền kết hôn.

Người bị thiểu năng trí tuệ nếu ko bị Tòa án mang thẩm quyền tuyên mất năng lực hành vi dân sự (Với thể tuyên bị hạn chế năng lực hành vi) thì người bị thiểu năng trí tuệ ko bị xem là bị mất năng lực hành vi nên mang quyền kết hôn theo quy định (khoản 1, Điều 22 Bộ luật dân sự 2015).

Căn cứ pháp lý: khoản 1, Điều 22 Bộ luật dân sự 2015 và điểm c khoản Một Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 2. Hội liên hợp phụ nữ mang quyền yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền ra quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do bị ép buộc.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và điểm d, khoản 2, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 3. Con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mang thể ko phải là con chung của vợ chồng.

Gợi ý đáp án:

Căn cứ theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời khắc con được sinh ra. Do đó, trong trường hợp mang thai hộ vi mục đích nhân đạo thì con do người vợ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân mang thể ko phải là con chung của vợ chồng mà là con của vợ chồng nhờ mang thai hộ.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và điểm d, khoản 2, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 4. Yêu sách của nả trong kết hôn là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá quắt và coi đó là điều kiện để kết hôn.

Căn cứ theo quy định tại khoản 12, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về giảng giải từ ngữ Yêu sách của nả trong kết hôn thì Yêu sách của nả trong hôn nhân là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá quắt và coi đó là điều kiện để kết hôn nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ. Trường hợp những đòi hỏi về vật chất quá quắt này ko nhằm cản trở việc kết hôn tự nguyện của nam, nữ thì ko được xem là Yêu sách của nả trong hôn nhân.

Căn cứ pháp lý: khoản 12, Điều 3, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 5. Trong mọi trường hợp, việc nhập tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều phải lập văn bản.

Căn cứ theo quy định tại khoản Một và khoản 2, Điều 45, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì việc nhập tài sản riêng của vợ, chồng vào tài sản chung được thực hiện theo thỏa thuận của vợ chồng, mang thể ko cần lập văn bản. Tuy nhiên, trong trường hợp việc giao dịch tới tài sản đó phải tuân thủ hình thức theo quy định của pháp luật như việc nhập tài sản là bất động sản là tài sản riêng của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung của vợ và chồng thì thỏa thuận này đề xuất phải lập thành văn bản.

Căn cứ pháp lý: khoản Một và khoản 2, Điều 45, Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Nhận định 6. Nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ kết thúc kể từ ngày quan hệ con nuôi được xác lập.

Căn cứ theo quy định tại khoản 4, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định về Hệ quả của việc nuôi con nuôi thì: Trừ trường hợp cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi mang thỏa thuận khác, nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ kết thúc kể từ ngày quan hệ con nuôi được xác lập. Do đó, nếu giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi thỏa thuận việc cha mẹ đẻ vẫn duy trì nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa cha mẹ đẻ và người được nhận làm con nuôi thì nghĩa vụ và quyền về tài sản giữa người được nhận làm con nuôi với cha mẹ đẻ của họ sẽ ko bị kết thúc.

Căn cứ pháp lý: khoản 4, Điều 24 Luật Nuôi con nuôi 2010.

II. Phần bài tập tình huống (4 điểm)

Năm 2000, ông Nguyễn Văn Tâm và bà Trần Thị Sự kết hôn. Sau một thời kì chung sống, ông Tâm tới tỉnh TG và chung sống như vợ chồng với chị Lê Văn Tư. Từ thời kì này, ông Tâm tạo lập được với chị Tư 01 mảnh đất trị giá 900 triệu đồng.

Năm 2017, bà Sự vay 100 triệu đồng của người quen biết cùng với số tiền kinh doanh (trong thời kì ông Tâm bỏ đi) tìm được căn nhà tại thành xã H trị giá 600 triệu đồng. Đầu năm 2018, bà Sự vay thêm 300 triệu để sản xuất, kinh doanh.

Tới tháng 11/2018, ông Tâm trở về và yêu cầu Tòa án nhân dân mang thẩm quyền khắc phục việc ly hôn và chia tài sản là căn nhà tại thành xã H. Ông Tâm cho rằng mình ko mang trách nhiệm gì với bất cứ khoản nợ nào của bà Sự do bà Sự tự xác lập mà ko mang sự thỏa thuận hay đồng ý của ông Tâm.

Nếu anh chị là cơ quan mang thẩm quyền, hãy khắc phục những yêu cầu của ông Tâm.

Gợi ý đáp án:

Yêu cầu khắc phục việc ly hôn của ông Tâm.

Căn cứ theo quy định tại khoản Một và khoản 3, Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về Quyền yêu cầu khắc phục ly hôn thì ông Tâm mang quyền yêu cầu Tòa án khắc phục ly hôn.

Tòa án mang thẩm quyền thụ lý vụ việc và khắc phục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. (Điều 53 và Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014)

Căn cứ pháp lý: khoản Một và khoản 3, Điều 51, Điều 53 và Điều 54 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Yêu cầu chia tài sản chung của ông Tâm

Những tài sản chung của ông Tâm và bà Sự được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân gồm: phần tài sản của ông Tâm và chị Tư trị giá 450 triệu đồng (900 triệu / 2), 01 căn nhà trị giá khoảng 600 triệu đồng. Nghĩa vụ về tài sản là số tiền 300 triệu đồng.

Trường hợp trên nếu ông Tâm và bà Sự thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung thì tài sản chung được chia theo thỏa thuận của những bên.

Trong trường hợp ông Tâm và bà Sự ko thỏa thuận được với nhau hoặc việc thỏa thuận ko đầy đủ hoặc ko rõ ràng về việc chia tài sản chung thì việc chia tài sản tuân thủ khắc phục tài sản của vợ chồng lúc ly hôn theo quy định tại những điều từ Điều 59 tới Điều 64 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và những quy định về chia tài sản Luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tại sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng mang tính tới những yếu tố được liệt kê tại khoản 2, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung, Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng,… Với thể thấy đối với tài sản chung là căn nhà trị giá 600 triệu của bà Sự thì công sức đóng góp của bà Sự là nhiều hơn, tương tự với phần tài sản ông Tâm tạo lập được với bà Tư thì công sức của ông Tâm nhiều hơn.

Về nghĩa vụ về tài sản, số tiền 100 triệu đồng bà Sự vay để tìm căn nhà trên là nghĩa vụ chung của cả ông Tâm và bà Sự do số tiền này góp phần tạo lập nên tài sản chung. Do đó, ông Tâm mang trách nhiệm cùng bà Sự liên đới chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ về tài sản này. Việc ông Tâm cho rằng mình ko mang trách nhiệm gì với bất cứ khoản nợ nào là ko xác thực.

Còn số tiền 200 triệu đồng mà bà Sự vay để kinh doanh riêng ko thuộc những trường hợp quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng nên bà Sự phải tự chịu trách nhiệm với phần nghĩa vụ tài sản này.


Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *