Phương pháp khám và chẩn đoán bệnh theo y học cổ truyền

Phương pháp khám và chẩn đoán bệnh theo y khoa cựu truyền

Nội dung cụ thể.

Vấn chẩn.

Vấn chẩn là một phần trọng yếu của tứ chẩn, thông qua vấn chẩn gợi cho chẩn đoán chuẩn xác. Nội dung chính của vấn chẩn sắp giống như y khoa hiện đại, vừa phải giảng giải triệu chứng đau hiện tại vừa phải hiểu được quá trình phát bệnh, nguyên nhân và khái quát quá trình bệnh nhân đã điều trị, phản ứng của bệnh sau uống thuốc hoặc châm. Khái quát bệnh sử và tập quán sinh hoạt, ăn uống, tình hình tư tưởng và gia đình… vấn chẩn sở hữu những đặc điểm riêng, y khoa xưa sở hữu người đặt thành bài ca thập vấn để khỏi quên thứ tự khám xét:

“Nhất vấn hàn nhiệt, nhị vận hãn

Tam vấn ẩm thực, tứ vận tiện

Ngũ vấn đầu thân, lục vấn phúc hung

Thất vấn tai, bát vấn khát, cửu vấn bệnh cũ

Thập vấn nhân”

Ngoài ra, hỏi về uống thuốc, riêng nữ giới hỏi về kinh, đới thai sản, trẻ em vấn đề sởi đậu.

Vấn hàn nhiệt, hãn: phải hỏi rõ sở hữu sốt hay ko sốt, mức độ nặng nhẹ của sợ gió lạnh, sợ rét nóng, đặc trưng của phát sốt, sở hữu mồ hôi hay ko sở hữu mồ hôi, tính chất nhỏ to thế nào ?

Bệnh mới mắc phát sốt, sợ lạnh là biểu chứng ngoại cảm, sốt ít, sợ lạnh nhiều, ko sở hữu mồ hôi là biểu chứng ngoại cảm phong hàn, nếu sốt cao, sợ lạnh ít, sở hữu mồ hôi là biểu chứng ngoại cảm phong nhiệt.

Lạnh rồi lại sốt, sốt rồi lại lạnh là chứng hàn nhiệt vãng lai, nếu thời kì phát bệnh ngắn kèm theo họng đắng, mồm khô, đầu choáng, mắt hoa, ngực sườn đầy tức là chứng “bán biểu bán lý”.

Phát sốt, ko sợ lạnh, sở hữu mồ hôi, mồm khát, tiện bế là chứng lý thực nhiệt.

Bệnh mãn tính: thường bệnh nhân cố sốt nhẹ về chiều, ngực và lòng bàn tay, bàn chân nóng (ngũ tâm phiền nhiệt), gò má đỏ, môi khô, tự hãn là âm hư sinh nội nhiệt thường sợ lạnh, đoản khí vô lực, tự hãn là dương hư.

Vấn đề đầu, thân, ngực, bụng: chủ yếu là hỏi về vị trí đau, tính chất đau và thời kì đau.

Đầu đau, chóng mặt, đau đầu liên tục, đau ở hai bên thái dương kèm theo phát sốt sợ lạnh thường là do ngoại cảm (cảm mạo), nếu lúc đau, lúc ko sở hữu kèm theo huyễn vựng, ko rét, ko nóng thường là do chứng bệnh nội thương thuộc lý, nếu đau nửa đầu đa phần do nội phong hoặc huyết hư, đau đầu sáng sớm, lúc mỏi mệt đau tăng thường do dương hư, đau đầu buổi chiều thường do huyết hư, đau đầu giữa đêm thường do âm hư. Đau đầu, huyễn vựng, mắt đỏ, mồm đắng là do can thương hỏa thịnh. Đầu choáng, tâm quí, khí đoản, vô lực thường do khí huyết đều hư. Đột nhiên nhức như căng đầu ra thuộc thực chứng, lâu ngày thuộc hư chứng. Đau nhức nặng như ghì xuống, như mặc giáp thường thuộc về chứng thấp.

Đau thân thể, toàn thân đau mỏi, phát sốt, sợ lạnh do ngoại cảm, đau thân thể lâu ngày đa phần là do khí huyết bất túc, phần lưng đau mỏi do thận hư, khớp tứ chi, cơ nhục, cân cốt đau mỏi, tê nhiều hoặc sưng khớp, đau di chuyển nhiều hoặc nhất mực phần nhiều do phong hàn thấp tý.

Đau ngực, đau ngực phát sốt, ho, nôn máu (nục huyết) phần nhiều phế truất ung thũng (dãn phế truất quản, u phế truất quản), đau ngực triều nhiệt, ho khan, ít đàm, trong đàm sở hữu dây huyết do phế truất lao thương (phế truất kết hạch), u phổi. Đau ngực hướng lan ra sau lưng và lên vai hoặc đau xương ức, cảm giác nặng vùng tim là hung tý (chú ý tâm giao thống), hiếp thống thường do can khái ko thư thái (căng thẳng kéo dài).

Phúc thống: chỉ đau bụng trên, hay oẹ hoặc nôn ra nước trong thuộc vị hàn, đau chướng bụng trên hay ợ chua, sở hữu thể do thực trệ, quanh rốn đau tức, lúc đau, lúc ko, lúc đau như sở hữu hòn cục nổi lên thường do giun đũa. Đau bụng phát sốt tiết tả hoặc hạ lợi (sở hữu máu), lỵ cấp hậu trọng phần nhiều do thực chứng thấp nhiệt. Đau bụng lâm râm, đi ngoài lỏng nát, sợ lạnh, tứ chi lạnh phần nhiều là chứng hư hàn thấp.  Nói chung đau đột ngột, dữ dội là thực, đau lâu là hư, đau sau lúc ăn, bụng chướng là thực, sau lúc ăn đau giảm, vị trí đau nhất mực, đớn đau kịch liệt, lúc ấn đau tăng (cự án) là thực, còn đau âm ỉ, vị trí ko nhất mực, lúc ấn đau giảm hoặc thiện án là hư.

Vấn đề ăn uống (ẩm thực): phải hỏi bệnh nhân tỉ mỉ về cảm giác thèm ăn, lượng ăn, khẩu vị, phản ứng sau lúc ăn và cảm giác khát. Người bệnh ăn uống thông thường chứng tỏ vị khí ko tổn thương, ko muốn ăn uống lại hay buồn nôn hay ợ là vị sở hữu tích trệ; ăn nhiều hay đói là vị thực hỏa (chú ý chứng tiêu khát), mồm khát, thích uống nước mát phần nhiều là vị nhiệt thương âm, mồm khát thích uống nước ấm nóng thường là do vị dương bất túc; mồm khát, ko khát hoặc do biểu chứng chuyển vào lý hoặc do chứng lý dương hư hàn thịnh, mồm khô ko muốn uống là tỳ hư thấp thịnh. Bệnh nhân đắng mồm là can đởm sở hữu nhiệt, mồm chua là trường vị tích trệ, trong mồm lở loét thường là tỳ sở hữu thấp nhiệt, mồm nhạt là hư chứng. 

Vấn đề đại, tiểu tiện: phải hỏi rõ số lần, tính chất sở hữu máu hay ko sở hữu máu.

Đi ngoài táo kết, khô ráo khó đi, phát sốt thuộc chứng nhiệt (thực chứng), bệnh lâu, mới đẻ, người già tiện bí kết thường thuộc chứng khí hư hoặc tân hao.

Đi ngoài lỏng nát, trước đi ngoài ko đau bụng là do tỳ vị hư hàn, trước ngủ dậy (sáng sớm) đau bụng, ỉa lỏng (gọi là ngũ canh tiết) thường do thận dương hư, đi ngoài lỏng như nước, phản xạ mót dặn, nóng ở giang môn là vị trường sở hữu nhiệt, đi ngoài phân chua, bạc màu, nhiều bọt, bụng đau phúc tả, sau tả đau giảm là thực trệ.

Đi ngoài nùng huyết “lỵ cấp hậu trọng”, bụng đau phát sốt là thấp nhiệt hạ lợi, đi ngoài phân sở hữu giây máu, sắc tươi hồng là mới xuất huyết, đi ngoài phân hồng đen là máu cũ.

Tiểu tiện lượng nhiều mà trong, trắng phần nhiều là hư hàn; trong trắng nhiều lần (phiền số) thậm chí đái són là khí hư. Tiểu tiện ít mà vàng thuộc nhiệt hoặc tiểu đục, đái buốt, tiểu khó khăn phần nhiều do thấp nhiệt.

Tiểu tiện nhiều về đêm hoặc trong giấc ngủ di niệu là thận hư, niệu cấp, nhiều lần, buốt, dắt, bài niệu khó khăn hoặc nước tiểu sở hữu máu, sa thạch phần nhiều do lâm chứng. Mồm khát uống nhiều, tiểu tiện nhiều, toàn thân gầy nhanh là tiêu khát (đái tháo đường). Đột nhiên phát sinh niệu bế, bọng đái đau nhiều, phát sốt là thực chứng, lượng nước tiểu giảm ít, thậm chí vô niệu, sắc mặt trắng bệch, đau thắt lưng, thủ công lạnh là hư chứng.

Vấn về giấc ngủ (thùy miên): phải hỏi rõ vào giấc ngủ khó hay dễ, buổi tối khó vào giấc ngủ, ăn kém, gầy gò vô lực, tâm quí kiện vong, ý thức hoảng loạn là tâm tỳ lưỡng hư phần nhiều do ưu tư quá độ, hư phiền ko ngủ được, triều nhiệt tự hãn, lưỡi đỏ, ít tân, mạch tế là âm hư. Trong trường hợp mất ngủ sau lúc ốm nặng hoặc là người già khí huyết lưỡng hư, khí huyết hư thường dẫn tới mất ngủ. Đêm ngủ ko yên giấc, thiếu ngủ, tâm phiền, mồm lưỡi sinh mụn nhọt, đầu lưỡi đỏ là tâm hỏa vượng thịnh, mất ngủ, hay mộng, đau đầu, mồm đắng, hay giận dữ, cáu gắt là can hỏa vượng thịnh. Trong mộng kinh sợ nhiều là đởm khí hư hoặc vị nhiệt. Mộng mơ nhiều, chi thể gầy gò, ngủ nhiều, giấc ngủ ko sâu là khí hư, sau lúc ăn mỏi mệt, muốn ngủ đa phần là tỳ khí bất túc. Sau lúc ốm ngủ tốt là chính khí đã hồi phục. Mình nặng, mạch hoãn, ngủ nhiều là thấp thắng.

Vấn về tai ù: thận can đởm sở hữu quan hệ chặt chẽ với tai, ù tai nhiều, đột ngột là can đởm hỏa vượng thực chứng, ù tai nhiều ngày kéo dài là thận hư, khí hư. Trong ôn bệnh xuất hiện tai ù là nhiệt tà thương âm, tai ù kèm theo tâm quí, đầu chóng là hư chứng, nếu kèm theo tức ngực, sườn đau, mồm đắng, đi ngoài táo kết, hay nôn mửa đa phần thuộc thực chứng.

Thai phụ bệnh, ngoài đặc điểm vấn như trên, vẫn phải chú ý.

Người bệnh là nữ phải hỏi tỉ mỉ kinh nguyệt, đã kết duyên hay chưa (bao gồm dậy thì, chu kỳ, tính chất của kinh nguyệt nhiều hay ít, sở hữu hay ko sở hữu thống kinh, mầu sắc khí vị bạch đới) và hỏi khả năng sinh dục (số lần sở hữu thai, đẻ, sở hữu khó đẻ hay ko, xảy thai…)

Về kinh nguyệt: kinh gnuyệt lượng nhiều, đỏ thẫm mà đặc, mồm đắng, môi đỏ là huyết nhiệt, kinh huyết tím đen, sở hữu máu cục đa phần thuộc thực chứng. Kinh nguyệt kéo dài, kinh huyết lượng ít, đỏ nhợt mà loãng, sắc mặt vàng nhợt là huyết hư, nếu chi lạnh, mặt trắng là hàn thực, nếu huyết xám tím thành cục, bụng dưới đớn đau cự án hoặc chướng to là khí trệ huyết ứ. Kinh nguyệt huyết sở hữu mùi hôi là chứng nhiệt, sở hữu mùi tanh là chứng hàn. Bạch đới trong, lỏng mà tanh là hư hàn, vàng đặc mà hôi là thấp nhiệt. Sau đẻ sản dịch rong kinh kéo dài kèm theo bụng đau cự án là huyết ứ.

Đối với bệnh thiếu nhi đều phải hỏi rõ thời kỳ dậy thì (phát dục), tiền sử sở hữu bị đậu mùa, sởi hay ko,  sau rốt là chú ý tới ăn uống và nuôi dưỡng.

Vọng chẩn.

Là thông qua quan sát trạng thái chung, thần, sắc, hình thái mắt, môi và quan sát lưỡi giúp thêm cho chẩn đoán về tính chất bệnh. Trẻ em từ ba tuổi trở xuống, sở hữu thể xem “chỉ văn” để giúp thêm cho chẩn đoán.

Trạng thái chung: ý thức uỷ mị, ánh mắt ko thần, da mặt xanh bệu trệ, sắc mặt sáng tối, ko sáng thường biểu hiện chính khí tổn thương, sắc mặt trắng bệch, da trông khô, môi nhợt phần nhiều do huyết hư, sắc mặt vàng bủng do tỳ hư, bệnh lâu ngày, sắc mặt xám đen phần nhiều do thận hư, hai gò má đỏ về chiều, sở hữu sốt thường do âm hư  sinh nội nhiệt, bệnh nhi sở hữu gò má hồng đỏ, quanh môi lại xanh tím là can phong. Trong màu sắc của những loại bệnh nhìn chung: nhuận sáng là bệnh tương đối nhẹ, xám tối là nặng. Trong những bệnh ôn nhiệt hoặc trẻ con bị cấp kinh phong, vận động nhãn cầu ko linh hoạt, lúc nhất mực, lúc nhìn lên hoặc nhìn thẳng hoặc nhìn lệch, đa phần thuộc can phong nội động hoặc đàm nhiệt tụ bế, đây là một trong những triệu chứng của tiểu nhi kinh phong. Trong bệnh trẻ em mà ko sở hữu mồ hôi, lỗ mũi khô, ko sở hữu dịch thường là chứng nặng, sắc mũi trắng bệch là khí huyết suy nhược.  - Hình thái: hình thế tiều tụy, chi thể gầy gò, suy bì phu khô ráo là khí huyết suy nhược, hư bệu, ăn kém là tỳ hư sở hữu đàm; hình gầy, ăn ít là trung khí suy nhược, hình gầy ăn nhiều là trung tiêu sở hữu hỏa, da toàn thân thấy vàng, củng mạc, kết mạc phát vàng là hoàng đản; sắc vàng thẫm, tươi như quất suy bì, phát sốt là do dương hoàng (phần nhiều là cấp tính). Toàn thân phù thũng, bệnh tăng dần, khớp chi nặng nề, đau mỏi hoặc kèm theo sợ lạnh, sợ gió là thủy khí nội đình, phong tà xâm nhập, mình nặng ý thức mỏi mệt là thấp nặng, lưng mỏi, chi lạnh, sắc mặt ám tối là thận dương hư. Hạ chi phù thũng, sắc mặt vàng bủng, ăn ko ngon, bụng chướng, đi ngoài lỏng nát là tỳ dương hư. Ngoài ra xuất hiện ban chẩn (dạng điểm là chẩn, dạng phiếu là ban) đa phần là nội nhiệt. Bệnh ôn nhiệt nặng là nhiệt vào huyết phận, ban chẩn sắc tươi, sắc hồng nhuận là bệnh nhẹ, sắc xám tối là bệnh nặng.

Vọng về lưỡi (thiệt chẩn): lúc quan sát, trông lưỡi để chẩn đoán bệnh, y khoa cựu truyền luôn coi lưỡi như một trong những bức tranh phản ánh bệnh tật của cơ quan nội tạng. Vì vậy trông lưỡi để chẩn đoán bệnh theo y lý cựu truyền cần phải toàn diện, tỉ mỉ. Trước hết phải khám để loại bỏ những bệnh tại lưỡi và sự biến đổi của lưỡi liên quan tới chứng bệnh theo y khoa hiện đại. Những bệnh của lưỡi: viêm lưỡi, lưỡi sưng to, đau, cử động hạn chế thường gặp là trạng thái viêm lưỡi xung huyết. Loét lưỡi, lưỡi sở hữu những vết loét ở niêm mạc, người bệnh thường đau khó chịu, bệnh lưỡi ngoại khoa thường gặp u lành và những khối giả u. U máu (angiome) thành một đám gồ lên, màu hồng tươi hoặc xanh lơ, ở dưới niêm mạc sở hữu tính cương tụ, đám u này thường gặp ở lưỡi, lợi, môi. Lưỡi sở hữu hình thể to và thường xuyên bị đẩy ra phía trước, sờ ấn đám u máu thấy mềm, ấn xuống được và lúc bảo người bệnh làm động tác phấn đấu thì u máu cương tụ lên. U hạt; thường phát sinh sau một vết thương của lưỡi thành một u hạt, sở hữu nhiều mao quản dãn, lúc khám u hạt thấy như quả dâu tây sở hữu nhiều mạch máu, dễ chảy máu, dễ tái phát. Bướu giáp lạc ở chỗ lưỡi: bướu giáp lạc chỗ sở hữu thể thoái hóa biến thành dạng nang. U cơ, u mỡ, u xơ mỡ, u nang, u tuyến nang, u bẩm sinh, u nang do ký sinh trùng gây ra. U xơ hiếm gặp thường ở thân lưỡi.

Những loại u ác tính.

Saccom: thường gặp ở người trẻ, gặp ở nam giới hai lần nhiều hơn nữ, vị trí gặp ở hai phần ba phía sau của lưỡi, u cứng, mầu trắng, sở hữu tính chất đàn hồi, phát sinh ở bề sâu của lưỡi.

Ung thư biểu mô: thường gặp ở người sở hữu tuổi (40 - 60), người nghiện thuốc lá nặng, sở hữu đám vẩy trắng ở niêm mạc lưỡi (do sự kích thích trường diễn của thuốc lá), ở người sở hữu vết loét tim la ở lưỡi. Lâm sàng thể hiện lúc đầu một đám (vết) tổn thương ko đau, nhẵn, bóng như vết khảm, mềm, ko chảy máu. Đám này to rộng dần, trở nên cứng, mầu chuyển thành xám, diện mấp mô, khá đau và dễ chảy máu lúc chạm tới. Theo vị trí ung thư lưỡi ở đầu lưỡi, ở viền lưỡi, ở cuống lưỡi, lúc khám thấy sở hữu hạch ở dưới hàm, vùng cổ kèm theo, chẩn đoán bằng sinh thiết làm xét nghiệm phẫu thuật bệnh học.

Những tổn thương lưỡi của bệnh tim la: lúc khám lưỡi thấy những đám niêm mạc lột bong đi lộ ra những nền trống trên lưỡi được ví như những mảnh ruộng đã được giặt sạch.

Bệnh lưỡi và niêm mạc mồm.

Niêm mạc mồm và lưỡi sở hữu vết loét ở bờ lưỡi thành vệt màu trắng xám, kèm theo sở hữu hạch đau. Theo Bergeron là do một loại giống xoắn khuẩn.

Viêm lưỡi do thuốc (cả viêm niêm mạc mồm): thường do bismuth, vàng, asen. Tùy theo thuốc tiêu dùng mà sở hữu triệu chứng như khô niêm mạc mồm lưỡi, sở hữu vị kim loại, đau răng, đau lúc nhai, nếu do bismuth thì sở hữu vết xanh đen ở niêm mạc mồm lưỡi, do vùng loét sở hữu mầu xà cừ, do asen loét sở hữu mầu hoại tử.

Viêm lưỡi mất gai lưỡi do nhiều nguyên nhân.

Thiếu máu ác tính (viêm lưỡi Hunter) niêm mạc lưỡi nhợt nhạt mà đau, nhẵn, bóng, mất gai, lưỡi teo toàn bộ bề mặt hoặc teo 1/Hai phần trước mặt dưới lưỡi, cần xét nghiệm máu để phát hiện thiếu máu ưu sắc sở hữu nhiễm tiểu cậu nhẹ, viêm lưỡi Moeller cũng do thiếu máu ác tính biểu hiện ở lưỡi bằng những vệt đỏ hoặc nhợt nhạt hình bầu dục tản mát trên mặt lưỡi, đau dữ dội ở những vết đó lúc đụng vào.

Viêm lưỡi do thiếu máu nhược sắc, thiếu dưỡng chất, biểu hiện viêm lưỡi mất gai, khô, đau niêm mạc mồm, cần xét nghiệm máu (số lượng hồng huyết cầu sắp thông thường nhưng huyết sắc tố giảm mạnh, xét nghiệm dịch vị ko sở hữu HCL, thiếu dưỡng chất).

Viêm lưỡi do thiếu Vitamin C: viêm lưỡi mất gai, nhẵn, bóng, giảm tiết nước miếng, tổn thương móng tay, chân, mồ hôi giảm (móng lõm, rối loạn tiêu hóa với thiểu toan). 

Hội chứng Gougerch - Sjoegren: viêm mồm khô, viêm lưỡi mất gai (cả khô mắt)

Viêm lưỡi mất gai thành đám: cần xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán để xác định hoặc loại trừ, sở hữu thể do sâu răng, rối loạn tiêu hóa, đái đường.

Viêm lưỡi hình thoi trung tâm: mặt lưỡi nhẵn, thỉnh thoảng khá tím và sở hữu bạch huyết cầu nhẹ, thỉnh thoảng mất mô, phẫu thuật bệnh lý sở hữu tăng gai, nguyên nhân chưa rõ, sở hữu thể là một loại bột (novi); lưỡi địa đồ gồm nhiều đám mất gai đỏ và nhẵn, sở hữu một viền trắng bao quanh vằn vèo vẽ thành như hình địa đồ, ko đau, kéo dài vô tận, chưa rõ nguyên nhân.

Viêm lưỡi do nấm mốc: xét nghiệm tìm Candida albicans sở hữu cả viêm mồm môi (tứa mồm, lưỡi).

Liken phẳng ở lưỡi: cần khám niêm mạc mồm ở lưỡi hình mạng lưới, hình vàng hoặc hình rêu dương xỉ, trắng đục, gờ cao.

Bạch sản (leucoplasie)thường chỉ gặp ở nam giới, nhẹ thì trông như một mạng trắng, đục, nhẵn đồng đều, ranh giới ko rõ. Nặng và để lâu thì như đám trắng xà cừ đục, bề mặt nhẵn hoặc sở hữu khía ô vuông, vách mặt trên như sở hữu bự niêm mạc, ở chỗ đó ko mềm mại, cần làm sinh thiết vì bạch sản dễ làm ung thư.  

Lưỡi đen hay gặp tương đối, mầu sở hữu thể từ nâu hoặc đen thật sự: phân chia thành hai loại.

Lưỡi đen sở hữu nhung mao, gai lưỡi phì đại, xù xì màu đen và có nhẽ do chất sừng tạo ra.

Lưỡi đen do thuốc, do tiêu dùng thuốc súc mồm hoặc thuốc khác sở hữu tính oxy hóa làm phì đại gai lưỡi và sẫm màu.

Đau lưỡi là một cảm giác đau cảm nhận thấy ở một điểm nhất mực ở lưỡi hoặc ở một phần to của lưỡi, nhìn qua ko phát hiện được những biến đổi ở lưỡi, thường xuất hiện ở những người sở hữu trạng thái tâm lý (bị sợ hãi, sợ ung thư), khám kỹ lưỡi sẽ thấy ở trên một vùng lưỡi nào đó sở hữu phì đại gai lưỡi dạng chỉ. Những gai này lởm chởm, đỏ chói, thường rất đau lúc chạm vào, dù rất nhẹ. Hiện tượng viêm gan này ngoài mặt sở hữu vẻ nguyên phát và có nhẽ là nguyên nhân của đau vì lúc đốt điện nông những gai viêm này thì hết đau lưỡi, người ta phát hiện sở hữu giãn tĩnh mạch dưới lưỡi. Căn nguyên thường khó xác định, sở hữu thể do viêm lợi, răng, do liken phẳng ko nhìn thấy, do sản sinh ra những hóa chất hoặc dòng điện từ  răng giả hoặc chất hàn răng, do rối loạn tiêu hóa làm biến đổi pH nước miếng… cũng sở hữu thể do viêm gai nhiễm khuẩn (do liên cầu khuẩn).

Biến đổi lưỡi liên quan tới bệnh lý toàn thân.

Lưỡi mập, bệu, nhẽo: thường do phù nề tổ chức lúc albumin trong huyết tương giảm thấp. Do sở hữu giảm trương lực những nhóm cơ ở lưỡi nên diện xúc tiếp của bờ rìa lưỡi và đầu lưỡi với mặt trong những răng sở hữu những vết dấu hằn của răng.

Lưỡi to mập, bệu, chắc nhưng cử động lưỡi khó; gặp trong bệnh to mặt và những chi, lưỡi mồm hầu dầy.

Cần phân biệt với những trạng thái quái đản bẩm sinh về hình thể lưỡi sau đây.

Lưỡi to bẩm sinh: ngay sau lúc mới đẻ do sự phát triển quá nhiều tổ chức cơ, tổ chức tuyến, tổ chức bạch mạch. Do lưỡi quá to nên chèn những phòng ban khác trong mồm, làm lệch vẹo vị trí những răng.

Lưỡi rụt ngắn bẩm sinh: do ngắn bẩm sinh đoạn nối lưỡi với nền mồm nên ko thè lưỡi ra được và do đó cử động lưỡi bị hạn chế.

Tuyến giáp lạc vị trí và ở ngay trên viền lưỡi, nơi tiếp giáp đường viền nhú dạng đài với thanh nhiệt. Lúc khám thấy sở hữu phần gồ ở nền lưỡi, sở hữu tổ chức tuyến giáp và mạng lưới mạch máu phong phú.

Biến đổi màu sắc lưỡi.

Thông thường chất lưỡi hồng tươi, lúc thiếu máu sở hữu phù to do albumin huyết tương giảm, mầu lưỡi sẽ trắng nhợt.

Lúc sở hữu tăng sinh những huyết quản sở hữu xung huyết, mầu lưỡi thường xẫm.

Lúc sở hữu ứ trệ lưu thông huyết, mầu lưỡi thường xanh tím.

Biến đổi độ ẩm lưỡi: lưỡi khô lúc trạng thái thân thể bị thiếu nước (mất nước do đi lỏng, nôn nhiều, do ra quá nhiều mồ hôi), lúc lượng nước miếng bị giảm do sự tiết những tuyến nước miếng kém hoặc bị ức chế thần kinh.

Biến đổi cử động lưỡi: lúc tổn thương dây thần kinh vận động của lưỡi và ở một số trạng thái nhiễm độc, nhiễm khuẩn, cử động lưỡi ko được thông thường. Lúc khám lưỡi yêu cầu người bệnh há mồm để xem lưỡi sở hữu đúng vị trí ko, bảo người đó thè lưỡi, rụt lưỡi xem lưỡi sở hữu được đưa ra và trở lại theo đúng với đường giữa hoặc lệch về một bên. Cũng cần khám xem sở hữu hiện tượng teo những nhóm cơ lưỡi ko.

Biến đổi niêm mạc lưỡi.

Lớp biểu mô của niêm mạc lưỡi dầy lên do tăng sinh và sừng hóa, thường gặp ở những người nghiện thuốc lá, thuốc lào, lúc khám thấy sở hữu những đám trắng bệch, dày ở lưỡi.

Lớp niêm mạc lưỡi sở hữu những rãnh nứt, sở hữu những vết trợt loét.

Lớp gai nhú lưỡi teo lại, lúc khám thấy lưỡi dẹt, mỏng và bóng nhẵn.  - Biến đổi rêu lưỡi: thông thường lưỡi sạch, ko sở hữu rêu hoặc lớp rêu trắng rất mỏng và đều. Rêu lưỡi được tạo thành do sự kết hợp cáu bẩn, những gai nhú lưỡi đã bị sừng hóa với những mảnh bong của lớp tế bào biểu mô niêm mạc lưỡi cùng với những tế bào thẩm thấu của nước miếng, những vi sinh vật sống ở trong mồm và với một số thành phần của thức ăn lúc nhai ở mồm, sự biến đổi của rêu lưỡi (dầy, mỏng, mầu sắc trắng, vàng, đen…) sở hữu liên quan tới một số quá trình bệnh lý tại lưỡi, miệnh hoặc toàn thân (xem ở những phần sau)

Trạng thái rêu lưỡi liên quan với chất lưỡi trong một số chứng bệnh theo y khoa hiện đại.

Bệnh tiêu hóa.

Chất lưỡi sạch, đỏ, ướt, thường gặp ở những người bệnh bị loét đường tiêu hóa ở những giai đoạn ko sở hữu biến chứng.

Rêu lưỡi xám trắng, sở hữu mùi hôi, thường gặp ở người sở hữu viêm dạ dày cấp.

Lưỡi khô, lúc ổ bụng sở hữu những biến chứng nặng, lúc người bệnh bị viêm tụy cấp.

Lưỡi viêm sở hữu những vết trợt và chuyển dần sang màu đỏ bóng (như sơn mài) lúc bị bệnh viêm teo mãn tính niêm mạc ruột già sở hữu đi lỏng mãn tính.

Lưỡi màu đen hoặc đỏ tía như màu sơn mài thường gặp ở người bị xơ gan.

Lưỡi teo, những nhú lưỡi mất, thường gặp ở người ung thư dạ dày, viêm teo dạ dày sở hữu giảm nặng những chức vụ tiết của dạ dày.

Bệnh truyền nhiễm.

Lưỡi khô, sở hữu rêu dày, màu nâu xẫm ở cuống lưỡi và giữa lưỡi, còn phía bờ viền, quanh lưỡi, đầu lưỡi ko sở hữu rêu và nhìn thấy vết hằn của răng, gặp ở những bệnh thương hàn, phó thương hàn. Trong những bệnh này ở thời kỳ khỏi bệnh; lưỡi khá trắng ở thời kỳ toàn phát, lưỡi bự  trắng, sở hữu những rêu mầu nâu xẫm hoặc đen trông như lưỡi lợn quay, lưỡi co nẻ khô lại như lưỡi vẹt, còn viền quanh lưỡi, đầu lưỡi màu đỏ rừ.

Lưỡi khô, môi và niêm mạc mồm khô; bệnh thổ tả thể tình trạng thái mất nước nhiều.

Lưỡi và môi khô, rêu lưỡi trắng; bệnh dịch hạch.

Lưỡi đỏ tía; bệnh hồng ban.

Bệnh thiếu sinh tố.

Lưỡi đỏ tươi, phù, sở hữu những vết loét gây đau, gặp trong bệnh thiếu sinh tố PP.

Lưỡi đỏ tươi, bóng, ánh nhẵn (do teo lớp gai lưỡi), hình thể lưỡi dẹt, sở hữu thể sở hữu những vết loét ở viền lưỡi và đầu lưỡi, ở niêm mạc mồm; còn thấy hiện tượng teo lớp niêm mạc ở mồm, ở thành sau hầu, hiện tượng hà răng phát triển gặp trong thiếu sinh tố B12.

Lưỡi viêm cùng với niêm mạc mồm; gặp trong thiếu sinh tố B2.

Trạng thái nhiễm khuẩn nặng, nhiễm độc nặng: (lưỡi khô, rêu lưỡi xám xẫm, sở hữu lúc sở hữu mầu vàng đen, sở hữu những đường nứt ở niêm mạc lưỡi, rêu mầu vàng sở hữu quan hệ tới sự phát triển của những quá trình nhiễm độc, nhiễm khuẩn nặng, sức chống đỡ của thân thể sút giảm nhiều, những rối loạn vi tuần hoàn nặng, số lượng vi khuẩn, nấm xâm nhập nhiều).

Trạng thái dị ứng thuốc như: dị ứng penixilin, lưỡi bị viêm loét, sở hữu đám gai lưỡi bị lột đi.

Lý luận về “thiệt chẩn”. Vị trí của “thiệt chẩn” trong chẩn đoán bệnh; thiệt chẩn (xem lưỡi) là một phòng ban quan yếu trong chẩn đoán đông y. Việc xem lưỡi đối với đông y rất tỷ mỉ, chi tiết. Từ việc xem lưỡi mà hiểu được thực, hư của tạng phủ, tính chất của ngoại tà, vì vậy ở mức độ nhất định sở hữu thể giúp thêm cho chẩn đoán.

Rêu lưỡi và mầu sắc của rêu lưỡi.

Rêu lưỡi do vị khí mà hình thành: thông thường ở người khoẻ mạnh rêu trắng sáng bóng, mà ướt, mỏng. Cũng sở hữu lúc màu khá vàng nhạt, mỏng, khô vừa phải. Mùa hè rêu dày hơn một tẹo. Lúc xem bệnh phải xem rêu lưỡi dày hay mỏng, màu sắc gì, nhuận hay khô, nhờn dính hay nát vụn…Lúc khám lưỡi phải phân biệt với một số biểu hiện giả vì một số thức ăn, một số vị thuốc sở hữu thể làm cho mầu sắc rêu lưỡi thay đổi.  Theo Mã Triệu Nhi (1959), lúc cạo rêu lưỡi mà vẫn thấy còn rêu ở mặt bề mặt lưỡi đó là rêu thực. Rêu thực do vị khí mà sở hữu, rồi tà khí kết lại mà hình thành. Rêu giả lúc cạo lưỡi thì rêu mất hẳn, lưỡi sạch. Rêu giả do trọc khí ngưng tụ mà sở hữu hoặc do vị khí hư suy nên những lớp rêu mới ko hình thành được vì thế trên mặt lưỡi ko còn được tiếp nối liên tục (ko sở hữu rễ nối với sinh khí ở trong)

Tiên lượng bệnh thuận lợi hơn lúc sở hữu rêu thực. Song lúc đã sở hữu rêu thực rồi, sau đó diễn biến xấu ko sở hữu rêu mới sau lúc cạo lưỡi là vị âm đã khô kiệt, khí sinh phát đã ko còn nữa, đó là biểu hiện của bệnh nặng. Lúc chỉ sở hữu rêu giả nhưng sau đó hình thành rêu thực là trọc khí ở vị tràn lên hoặc nhiệt tà thịnh lên dần.

Rêu lưỡi hình thành trên khắp bề mặt lưỡi mỏng là tà khí ở biểu, rêu lưỡi dày là tà khí vào lý, nếu rêu đang dày trở nên ko sở hữu rêu là sức khoẻ tốt, bệnh giảm hoặc sở hữu thể rêu đang dày trở nên trắng mỏng là tà khí đã lui.

Vì vậy quan sát sự hình thành và biến đổi của rêu lưỡi cũng sở hữu thể giúp thêm cho tiên lượng bệnh.

Nếu rêu lưỡi lúc đầu dầy, sau mỏng dần và thưa, rồi dần dần rêu lưỡi hết từ gốc trước rồi dần dần ra đầu lưỡi, sau đó xuất hiện một rêu lưỡi non mới màu trắng, mỏng sáng bóng, ướt cũng từ phía trong ra như thế là hiện tượng tốt vì vị khí hồi phục dần, cốc khí tiến bộ dần.

Nếu rêu mọc dầy rồi đột nhiên biến mất, lưỡi trở nên bóng, sáng, khô, trơn (như vecni) đó là vị khí đã tuyệt, bệnh nguy kịch (chứng nghịch).

Bệnh mới phát, còn nhẹ sở hữu rêu mỏng, lúc rêu trở nên dày là tà khí đã vào lý, sâu hơn là ở trong sở hữu sự ngưng trệ.

Rêu lưỡi ướt nhuận là sở hữu thấp, rêu lưỡi khô ráo là sở hữu nhiệt. Nhưng cũng sở hữu lúc thấp tà truyền vào khí phận, khí ko hóa được tân thì rêu lưỡi cũng khô, hoặc nhiệt tà vào huyết phận nhiễu động âm khí thì rêu lưỡi cũng trở nên nhuận, do đó phải kết hợp với tứ chẩn mới sở hữu thể xác định đúng được.

Rêu nhuận là tân dịch chưa bị hao tổn, rêu khô là tân dịch đã bị hao tổn.

Rêu nát như bã đậu, cạo chùi đi là sạch ngay là dương khí hữu dư còn sở hữu thể hóa được trọc khí ở vị.

Rêu nhờn dính, trơn, che kín cả lưỡi, cạo ko hết, chùi ko sạch, thấy sở hữu niêm dịch, đó là dương khí bị đàm ẩm, thấy trọc tính trệ ức chế.  Màu sắc rêu lưỡi: do bệnh tình sở hữu hàn, sở hữu nhiệt nên màu sắc rêu cũng sở hữu sự thay đổi khác nhau; rêu lưỡi sở hữu thể trắng, vàng, màu xám tro, màu đen.

Rêu lưỡi trắng: là thuộc chứng hàn, chứng hư hàn cũng sở hữu thể thuộc chứng nhiệt nếu sở hữu chất lưỡi đỏ. Rêu màu trắng mỏng là bệnh tà còn ở phần biểu, chủ về phong hàn.

Rêu trắng mỏng là ngoại cảm phong hàn. Nếu ở trong sở hữu nhiệt mà ngoài bị cảm phong hàn thì rêu trắng mỏng mà chất lưỡi đỏ hồng.

Rêu trắng dày, khô là nhiệt tà nhẹ, làm hao tân dịch mà trọc khí chưa hóa được.

Rêu trắng như phấn đọng là biểu hiện của bệnh ôn dịch nhẹ hoặc là do thử tà với thấp tà ở kinh phế truất sinh ra.

Rêu lưỡi vàng: thuộc chứng nhiệt, màu vàng càng thẫm thì nhiệt càng cao. Rêu vàng là tà đã vào lý. Rêu vàng mỏng là do ngoại cảm phong nhiệt; rêu vàng, nhờn, dính là thấp nhiệt hoặc đàm nhiệt thực trệ ở trung tiêu. Rêu vàng mỏng, khô là tân dịch đã bị tổn thương, nhưng tà còn nhẹ (rêu mỏng), nếu rêu vàng dầy, khô là bệnh nặng hơn, thường sở hữu kèm theo chứng đi ngoài bí kết. Rêu vàng mà khô là màu xám tro, trơn, ướt là hàn thủy hại thổ, thường gặp ở những chứng ỉa lỏng, thổ tả và sở hữu kèm theo đầu chi lạnh, mạch trầm tế. Rêu màu xám tro, khô, chất lưỡi đỏ xẫm là nhiệt thịnh hại tâm.

Rêu lưỡi đen: thuộc lý chứng, biểu hiện bệnh nặng. Lúc khám thấy rêu đen phải phân tích hư thực, hàn nhiệt.

Rêu đen, trơn ướt, nhuận, chất lưỡi hồng nhạt là chứng hàn mà dương hư. Nếu rêu đen, nhuận khắp cả bề mặt lưỡi mà người bệnh ko sở hữu những triệu chứng gì nguy nặng thìa là do đàm ẩm phục ở lồng ngực. Nếu rêu đen như mầu mực, đen nhợt, đồng thời khám thấy đầu chi lạnh, mạch nhỏ, nhanh, yếu là chứng hư hàn.

Rêu đen, khô, chất lưỡi đỏ hoặc đỏ thẫm là tổn thương âm, hoả nhiệt hại âm. Nếu ở lưỡi sở hữu gai nhọn nổi cao, rêu đen nứt là chân thủy ở thận sắp kiệt, bệnh đang nguy nặng, khô là do nhiệt nhưng cũng sở hữu lúc vì hàn ở thiếu âm làm cho chân dương ko trưng bốc được tân dịch làm lưỡi khô sở hữu nổi gai nhọn đen. Rêu đen khô thấy ở vùng giữa lưỡi lúc bụng chướng đau cần xem xét hiện tượng phân táo bón, bế tắc đi ngoài kéo dài. Rêu lưỡi đen khô kèm theo lợi, môi, mồm, răng đều sở hữu màu đen là vị khí sắp bại, tiên lượng nguy kịch. Rêu lưỡi đen là hoả thịnh âm hao. Rêu đen khô, chỉ sở hữu ở cuống lưỡi là nhiệt ở hạ tiêu. Rêu đen, khô chỉ sở hữu ở đầu lưỡi là tâm hoả tự đốt ở trong. Lúc thấy rêu lưỡi đen, nếu người bệnh tỉnh táo là hư, nếu hôn mê cuồng sảng là thực, nếu người bệnh khát nước nhiều là nhiệt, nếu ko đòi hỏi uống nước là hàn.

Sự diễn biến về màu sắc rêu lưỡi.

Rêu lưỡi từ trắng biến thành vàng, sau lại từ vàng chuyển thành màu xám tro rồi hình thành những gai nhọn sở hữu điểm đen là nhiệt tà từ nông đã dần dần vào sâu hơn.

Rêu lưỡi từ  trắng biến thành vàng, sau lúc rêu vàng biến đi thì tái sinh rêu trắng mỏng là chứng thuận, rêu lưỡi từ trắng biến thành xám và từ xám thành đen là chứng nghịch. Rêu lưỡi giảm hoặc mất đi đột ngột cũng là biểu hiện của bệnh đã nặng lên.

Chất lưỡi và động thái lưỡi.

Người thông thường, khoẻ mạnh, lưỡi mềm mại, linh hoạt, màu hồng tươi sáng nhuận, động thái lưỡi thè ra thụt lại thuận tiện, ko lệch vẹo, ko liệt, ko xiên. Chất lưỡi là chỉ thể chất của lưỡi sở hữu liên quan tới quá trình bệnh lý nhất định. Ví dụ: đầu lưỡi đỏ là tâm hoả vượng (đầu lưỡi chủ yếu phản ảnh sự biến đổi của tâm và phế truất). Viền lưỡi hoặc bên sở hữu những nốt tím hoặc tĩnh mạch dưới căng đầy, uất, thường mặt bên lưỡi chủ yếu phản ánh sự biến đổi của can đởm. Bệnh của tỳ vị được thể hiện bằng những biến đổi ở giữa lưỡi. Còn bệnh ở thận được phản ảnh bằng những biến đổi ở phần gốc lưỡi. Khám lưỡi cần quan sát chất lưỡi trên những mặt sau đây; màu sắc và độ nhuận, hình thái và động thái.

Độ nhuận và màu sắc của lưỡi.

Sắc lưỡi nhợt (hồng ít trắng nhiều) là huyết hư, dương hư hoặc hàn chứng, sắc lưỡi nhợt mà ko rêu thường thường là dương khí suy, khí huyết hư, sắc lưỡi nhợt mà ướt; trơn là hàn ở những rối loạn dinh dưỡng, thiếu máu và một số bệnh nội tiết như phù niêm dịch…sở hữu thể thấy loại lưỡi trắng dầy.

Sắc lưỡi hồng tươi mà khô là âm hư, đỏ mà ko sở hữu rêu là âm hư hỏa vượng, ở những thời kỳ tiến triển của bệnh lao phổi, cường giáp trạng, đái đường… sở hữu thể thấy âm hư nội nhiệt. Sắc lưỡi đỏ (đỏ tức là hồng thẫm) thuộc về thực nhiệt. Sắc lưỡi đỏ thẫm là cực nhiệt. Bệnh truyền nhiễm cấp tính hoặc những bệnh truyền nhiễm dẫn tới nhiễm khuẩn huyết đều thấy lưỡi đỏ thẫm.

Trong y khoa dân tộc sắc lưỡi đỏ là tín hiệu quan yếu của bệnh ôn nhiệt từ phần khí chuyển tới phần doanh, đỏ mà sở hữu gai là nhiệt thịnh ở phần doanh; đỏ thẫm là nhiệt làm tổn thương tới tâm bào lạc gặp ở bệnh nhiễm khuẩn huyết và truyền nhiễm mức độ nặng; sắc lưỡi đỏ, hồng mà ko rêu là vị âm đã mất; nếu khô, ko tươi nhuận là thận âm đã suy, bệnh tình nguy hiểm. Sắc lưỡi chuyển sang đỏ thẫm, khô là tín hiệu quan yếu thể hiện nhiệt tà đã vào doanh (dinh), huyết. Sắc lưỡi tím, lưỡi tím đen, ướt, nhuận thường do huyết ứ, còn gặp ở những giai đoạn suy thở, suy tuần hoàn. Sắc lưỡi tím nhợt mà ướt là do chứng hàn.

Sắc lưỡi màu xanh lam: lưỡi xanh là khí huyết lưỡng hư (hao tổn nặng) nếu còn rêu lưỡi là tiên lượng nặng; nếu sắc lưỡi xanh bóng, ko rêu là tiên lượng rất xấu (thấy ở suy tuần hoàn, suy thở nặng, thiếu ôxy nặng).

Sắc lưỡi đen thể hiện cực hàn hoặc cực nhiệt: lưỡi đen mà trơn nhuận là cực hàn, lưỡi đen mà khô là cực nhiệt.

Hình thái của lưỡi.

Quan sát lưỡi to hoặc nhỏ, sở hữu những vết nứt, những gai nổi cao. Lưỡi to bè, nếu to bệu, mầu hồng nhạt, viền lưỡi sở hữu những dấu hằn của những răng là chứng hư hàn. Nếu lưỡi to, mầu hồng thẫm là tâm tỳ sở hữu nhiệt, nếu lưỡi to màu nhợt là ở trong sở hữu đờm ẩm. Nếu lưỡi to đầy mồm, màu đỏ làm khó thở là huyết hao, nhiệt thịnh, khí huyết ngưng trệ. 

Lưỡi teo nhỏ (mỏng và thon); nếu lưỡi màu hồng nhạt là khí huyết thiếu. Nếu màu đỏ là tân dịch hao tổn nhiều, âm hư nhiệt thịnh. Nếu lưỡi teo khô, sắc tối, ko tươi, nói giọng hoặc ko nói được là bệnh nặng, ở thời kỳ nguy kịch. Trên mặt lưỡi sở hữu gai nổi lên cao là nhiệt uất (nhiệt tà kết bên trong), gai mọc càng nhiều, càng to là nhiệt kế càng sâu (sốt rất cao), thường gặp ở viêm phổi cấp… trên mặt lưỡi sở hữu vết nứt phần nhiều là âm huyết hư và nhiệt thịnh (sốt cao, mất nước, suy dinh dưỡng…)  Động thái của lưỡi, quan sát trạng thái vận động của lưỡi.

Nếu đầu lưỡi cứng, cử động vướng ngượng, mỗi lúc nói thường vướng rít, sắc lưỡi dổ thẫm là nhiệt tà vào tâm bào, nhiễu loạn thần minh làm cho lưỡi mất linh hoạt; khô hao tân dịch, sự nuôi dưỡng của lưỡi bị sút giảm, lưỡi đẩy lên mà cứng, rêu lưỡi mà đen đục do đờm trở tắc đường lạc mạch của lưỡi, nếu sắc lưỡi trắng nhợt là khí huyết hư  suy, nếu sắc lưỡi đỏ hồng là do nhiệt thịnh hao âm (gây âm hư), lưỡi thè dài ra được nhưng đầu và thân lệch về một bên được gọi là lưỡi lệch gặp ở người bị trúng phong. Lưỡi thè dài ra được mà bệnh nhân sở hữu cảm giác tê dại phần thò ra ngoài mồm là do khí hư; nếu người bệnh sở hữu cảm giác nóng do tâm kinh sở hữu đàm nhiệt, nếu khó rụt lưỡi lại là bệnh nặng. Lưỡi rụt vào được mà ko thè dài ra được gọi là lưỡi rụt. Nếu lưỡi ướt nhuận là hàn ngưng ở cân mạch, nếu đỏ là nhiệt bệnh hại tâm, nếu lưỡi to bệu, nhờn, dính là đờm thấp trở tắc. Nếu lưỡi rụt ko nói được là bệnh nguy kịch.

Đầu lưỡi cứ rung, ko yên gọi là lưỡi run, nếu run nhẹ là do hư suy, huyết ít, can phong động ở trong hoặc do tâm tỳ hư; nếu lưỡi run mạnh lập cập mà sắc lưỡi đỏ hồng là can nhiệt phong động.

Liên quan của lưỡi với kinh lạc và tạng phủ.

Lưỡi liên quan với kinh lạc.

Đường mạch túc thiếu âm xuyên qua thận nối ở cuống lưỡi (túc thiếu âm chi mạch quản thận hệ thiệt bản)

Đường mạch túc thiếu âm đi kèm hai bên cuống lưỡi (túc thiếu âm hiệp thiệt bản)

Đường mạch túc thiếu âm đi dưới lưỡi (túc thiếu âm thiệt hạ)

Đầu ngọn là túc thiếu âm ở bối du và sở hữu hai đường mạch dưới lưỡi (túc thiếu âm chi tiêu tại bối du, hữu thiệt hạ lưỡi mạch)

Đường mạch túc thiếu âm đi lên nối ở lưỡi (túc chi thiếu âm thượng hệ ư thiệt)

Đường kinh biệt túc thái âm liền với cuống lưỡi tản ra ở dưới lưỡi (túc thái âm chi biệt liên thiệt bản tán thiệt hạ)

Đường kinh cân thủ thiếu dương sở hữu nhánh vào chằng ở cuống lưỡi (túc thái dương chi cân, chi gia biệt thiệt bản). Quyết âm là đường của can, can hợp với cân, cân tụ hội ở âm khí mà đường mạch nối ở cuống lưỡi (quyết âm giả, can mạch giả, can giả chi cân hợp giả, cân giả tụ ở âm khí, nhi mạch lạc, ư thiệt bản)

Nắm được sự liên quan của những chính kinh liên quan với lưỡi theo sự phân vùng kết hợp với triệu chinh kinh lạc (kinh lạc chẩn) sẽ giúp thêm cho chẩn đoán đúng bệnh ở tạng phủ hoặc tổ chức cơ quan.

Lưỡi liên quan với phủ tạng.

Tinh hoa của thực ăn từ vựng đi ra, đi ra môi lưỡi mà thành vị khí. Tâm khí thông ra lưỡi, tâm khí hòa thì lưỡi biết được ngũ vị (tâm khí thông ư thiệt, tâm hoà tắc thiệt năng chi ngũ vị). Lưỡi là lối vào của tâm (thiệt giả tâm chi quan dã). Tỳ khai khiếu ở mồm, bệnh biểu hiện ở cuống lưỡi (tỳ khai khiếu ư khẩu, sở hữu bệnh tại thiệt bản). Thượng tiêu ở trên tới lưỡi (thượng tiêu thượng chi thiệt). Lưỡi để rung động âm thanh (thiệt giả âm thanh chi cơ)

Căn cứ vào những điểm trên, y khoa cựu truyền đã xác định lưỡi ở trong mồm để nếm, để rung rinh âm thanh, để đưa đẩy thức ăn nhưng thông hệ thống kinh lạc, lưỡi luôn sở hữu liên quan với những hệ thống phủ tạng ở trong. Phủ tạng ở trong sở hữu được thông thường thì lưỡi mới được nuôi dưỡng và sự điều chỉnh thông thường. Lúc tạng phủ sở hữu bệnh thường sở hữu những biểu hiện ở chất lưỡi và rêu lưỡi.

Phân khu vực theo tam tiêu: đầu lưỡi thuộc thợng quản, cuống lưỡi thuộc hạ quản, giữa lưỡi thuộc trung quản. Cách phân chia này để ứng dụng với bệnh trường vị.

Phân khu vực theo tạng phủ: cuống lưỡi thuộc thận; giữa lưỡi thuộc tỳ vị, trong đó vị ở giữa tỳ ở chung quanh, hai bên can đởm, đầu lưỡi thuộc tâm phế truất.

Phân chia tính chất ngũ hành: lưỡi thuộc hoả, nước miếng thuộc thổ (hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, thủy khắc hỏa, hoả khắc kim, mộc sinh hỏa)

Tương tự khám lưỡi trong vọng chẩn bao gồm khám về rêu lưỡi, chất lưỡi, hình thể lưỡi. Rêu lưỡi là giám định tình trạng mới cũ, nông sâu, tiến triển của bệnh, là yếu tố gợi ý để khám sâu thêm về chất lưỡi; chất lưỡi là giám định bản tính hoạt động của tâm, mạch huyết, huyết dịch. Chất lưỡi luôn là yếu tố quyết định rêu lưỡi. Chất lưỡi sở hữu tác động tới hình thể lưỡi.

Tổng hợp tư liệu giám định khách quan rêu lưỡi, chất lưỡi và hình thể lưỡi còn giúp ta phân biệt được bệnh tà đang ở tạng phủ nào và tạng phủ nào đang bị bệnh, sau nữa là mức độ nặng nhẹ, tính chất hàn nhiệt, xu thế khỏi bệnh hay tiên lượng nguy kịch dẫn tới tử vong.

Vọng về chỉ văn ở tiểu nhi.

Đối với bệnh nhi thường quan “chỉ văn” nhánh tĩnh nhỏ, mạch nổi lên mé trong ngón tay chỏ (giữa vùng da mu tay và da bàn tay), da ấu nhi mềm mỏng, tĩnh mạch dễ nổi lên, vì vậy chỉ văn tương đối rõ, lúc tuổi càng to, da dầy lên thì xem chỉ văn ko rõ nữa. Trong điều kiện, mức độ nhất định chỉ văn sở hữu thể phản ánh tính chất và mức độ nặng nhẹ của bệnh tật, vì phần mạch của bệnh nhi ngắn và nhỏ, lúc chẩn bệnh thỉnh thoảng còn phải vuốt ngón tay, co duỗi ngón tay để khỏi tác động tới tính trung thực của mạch tượng. Trên những khoa lâm sàng với trẻ em dưới ba tuổi thường tiêu dùng chỉ văn để tương trợ thêm cho thiệt chẩn.

Vọng chỉ văn chủ yếu là quan sát sự lưu thông hay ứ trệ và màu sắc của đường tĩnh mạch nhỏ nổi lên. Ngón tay sở hữu ba đốt.

Đốt ngón tay thứ nhất được gọi là phong quan

Đốt ngón tay thứ hai được gọi là khí quan

Đốt ngón tay thứ ba được gọi là mệnh quan.

Phương pháp vọng chỉ văn là giơ ngón tay hướng ra sáng, y sinh tiêu dùng tay phải cầm lấy đốt thứ hai của ngón tay chỏ của bệnh nhi, vuốt, xoa, co, duỗi cho tính mạch nổi rõ, để giám định chuẩn xác hơn. Thông thường chỉ văn sở hữu màu tía nhạt mà tươi sáng, nói chung ko vượt nổi khỏi phong quan, lúc sở hữu bệnh chỉ văn thường sở hữu những biến đổi cả về sự lưu thông cũng như màu sắc. Chỉ văn đặc trưng nổi rõ lên đa phần là biểu chứng, chỉ văn trầm (chìm) bệnh tà ở lý, chỉ văn sắc nhợt là chứng hư, chứng hàn, sắc đỏ tía là chứng nhiệt, sắc xanh thường là phong hàn hoặc kinh phong hoặc chứng đau hoặc thương thực (tổn thương do ăn uoóng) hoặc là đàm khí thượng nghịch, sắc đen là huyết ứ. Chỉ lúc uất trệ, lúc co duỗi huyết dịch ko lưu thông tốt thường do đàm thấp, thực thấp hoặc tà nhiệt uất kết, đó là chứng thực. Về vị trí mà nói, chỉ văn ở phong quan bệnh nhẹ, nếu kéo dài tới khí quan bệnh tương đối nặng, nếu kéo dài tới mệnh quan và hết ngón, người xưa gọi “thấu quan tạ giáp” là bệnh tình thường nguy, nặng. Tóm lại: điểm chủ yếu của vọng chỉ văn là phù trầm để phân biệt biểu hay lý; màu đỏ tía, tím tái, phân biệt nhiệt hay hàn màu nhợt trệ quyết định thực hư.

Tư liệu hiện đại nghiên cứu chỉ văn: người ta cho rằng mức độ biến đổi, co dãn của chỉ văn liên quan với sức ép tĩnh mạch ở những bệnh nhân như sức bóp của tim yếu và sự lưu thông của phế truất kém (phế truất viêm). Đại phòng ban thấy chỉ văn dẫn tới mệnh quan, chính là do tuần hoàn máu bị cản trở và sức ép tĩnh mạch tăng cao mà dẫn tới. Lúc sức ép tĩnh mạch ko cao, chỉ văn co nhỏ lại vị trí thông thường là bệnh khỏi. Màu sắc của chỉ văn ở mức độ nào đó sẽ phản ánh tình trạng thiếu ôxy ở trong thân thể; thiếu ôxy nặng, trong huyết còn sở hữu lượng hồng huyết cầu, bạch huyết cầu ko cao, chỉ văn sở hữu sắc xanh tía. Sắc chỉ văn tía hoặc xanh tía thường thấy ở bệnh nhi bị phế truất viêm hoặc tâm khí bị suy kiệt, tâm sức yếu. Chỉ văn chuyển thành màu trắng nhợt thường gặp ở những bệnh nhi sở hữu số lượngt ế bào hồng huyết cầu và huyết sắc tố giảm.

Văn chẩn.

Bao gồm hai phơng diện là nghe âm thanh và văn về khí vị.

Nghe âm thanh: khá thở, ợ nấc, khái thấu (ho), tiếng nói. Âm thanh của người bệnh nói nhỏ nhẹ, ko liên tục, thiếu khí sở hữu lúc lộng ngôn đa phần là hư chứng, hàn chứng. Âm thanh đột nhiên lạc giọng hoặc mất tiếng hoặc khàn trầm phần nhiều do phong hàn hoặc do đàm trệ là thực chứng. Âm thanh giảm từ từ phần nhiều là phế truất viêm tân khô thuộc hư chứng. Âm thanh cao to, sở hữu lực hoặc phiền táo, đa ngôn phần nhiều thuộc chứng thực, chứng nhiệt. Lúc mắc bệnh lâu ở phế truất và ở thận chức năng đều giảm sở hữu thể thấy khí thô nhưng ko thường xuyên là hư chứng; tiếng ho vô lực là phế truất nhiệt. Tiếng nấc; tiếng nấc mạnh, sở hữu lực, mạch hoạt thực, phần nhiều là thực ách; nấc to, ngắn (nấc cụt), táo khát, mạch sác là nhiệt ách (nấc nhiệt chứng); tiếng nấc nhỏ, mạch vô lực kèm theo triệu chứng hư là hư ách (nấc hư chứng). Lâm sàng bệnh nặng, lâu ngày xuất hiện ách nghịch là triệu chứng nguy.

Văn về khí vị: tức là văn khí vị của những chất bài xuất, khá thở ở khoang mồm và toàn thân. Khí vị của thân thể người bệnh ở một số bệnh sở hữu trị giá đặc thù. Ví dụ: trong bệnh ôn nhiệt (ôn dịch), lúc bệnh nhân mắc bệnh can thận lâu năm, tiến triển nặng: mồm hôi, khá thở hôi uế thường là phế truất vị sở hữu nhiệt, khá chua là vị sở hữu thực tích, đàm tan hôi là phế truất nhiệt, hôi nhiều sở hữu mủ như phế truất ung, đại tiểu tiện, kinh đới cũng sở hữu thể tham khảo ở phần vấn bổ xung thêm và văn (nghe, ngửi). Y khoa cựu truyền cho rằng âm thanh chỉ bản (bản tính tiếng nói trong, đục, khàn, trầm, to rõ hoặc nhỏ nhẹ đều thuộc tỳ), thận vị thanh âm chi căn (gốc rễ của giọng nói to khoẻ, âm sắc rõ, nói lâu ko nghỉ mà âm sắc vẫn tốt đều do thận quyết định). Vì vậy, lâm sàng sở hữu thể thông qua sự thay đổi của âm thanh, âm sắc mà giám định tình hình hư thực, hàn nhiệt của tạng phủ…

Thiết chẩn.

Bao gồm toàn bộ súc chẩn thân mình, tứ chi và xem mạch.

Thiết mạch (bắt mạch ở thốn khẩu): y khoa cựu truyền rất coi trọng khám mạch để chẩn bệnh, nhiều tài liệu ghi lại việc khám rất tỉ mỉ, hiện nay được chia ra hai mươi tám loại mạch khác nhau thường được sử dụng trong lâm sàng.

Phương pháp khám bệnh: thường được thao tác ở chỗ đập của động mạch quay trên mặt trước khớp cổ tay của người bệnh (được gọi là mạch thốn khẩu), động mạch này được chia làm ba phần (bộ), bộ thốn, bộ quan và bộ xích. Bộ quan ở ngang mỏm châm xương quay, trên bộ quan là bộ xích, dưới bộ quan là bộ thốn. Trước lúc khám mạch phải yêu cầu bệnh nhân thư thái ý thức yên tĩnh, nếu vừa sau hoạt động, lao động nặng phải ngơi nghỉ rồi mới khám mạch. Lúc chẩn mạch tay bệnh nhân ở tư thế ngửa thoải mái, bàn tay duỗi, thầy thuốc tuần tự đặt ngón tay giữa vào bộ quan, sau đó đặt ngón tay chỏ vào bộ thốn, và ngón tay nhẫn (ngón vô danh) vào bộ xích, khoảng cách của ba ngón tay phải linh hoạt, nếu người bệnh cao to, khoảng cách của ba ngón tay phải xa hơn với người thấp bé. Thốn khẩu của bệnh nhi mạch ngắn nên cả ba bộ chỉ sở hữu thể tiêu dùng một ngón mẫu đặt ở bộ quan, còn bên phải, bên trái để giám định bộ thốn và bộ xích (cũng chỉ tiêu dùng một ngón mẫu), nếu bệnh nhi trên 8 tuổi, sở hữu thể thích hợp chẩn mạch (một ngón tay mẫu tiêu dùng cho cả ba bộ). Lúc chẩn mạch quan yếu là lực ấn của những ngón tay, phải khám ở  ba động tác (tam cử) sơ án để những ngón tay xúc tiếp với mặt da, trung án là ấn nhẹ, trọng án là ấn mạnh sát xương quay. Sau lúc khám mạch chung ở ba động tác (tam cử) thì xem vi khán từng bộ mạch, y sinh phải tập trung vào cảm giác tinh tế ở những đầu ngón tay, từ những đầu ngón tay biết được sóng mạch nổi chìm (phù, trầm), mạch yếu vơi đầy. Do ba bộ thốn quan xích sở hữu trị giá chẩn mạch tương ứng với những tạng phủ khác nhau và khác nhau cả bên phải bên trái. Mạch bên trái (bên tả) thứ tự ba bộ thốn quan xích là tương ứng với tạng tâm, can, thận, còn bên mạch phải thứ tự ba bộ thốn quan xích là tương ứng với ba tạng phế truất, tỳ và mệnh môn hỏa. Người xưa cho rằng gợn sóng khí huyết, nó sở hữu thể giám định trung thành hoạt động của tạng phủ (do tạng phủ sở hữu tương quan biểu lý với nhau).

Đặc điểm của mạch và chủ bệnh của mạch: trong phần này sẽ giới thiệu những hình mạch thường gặp trên lâm sàng, đặc điểm của hình mạch về tần số nhanh chậm, biên độ mạch cao thấp, sóng mạch mạnh hay yếu, hình thái mạch to hay nhỏ… thông thường tần số mạch đều đặn 4 - 5 lần trong một nhịp thở (nhất tức) sắp tương đương với 72 - 80 lần trong một phút, ko phù, ko trầm, ko nhỏ, đều đều hoà hoãn gọi là mạch hoãn, nhưng nếu khí huyết sở hữu thấp trở ngại cũng sở hữu thể thấy mạch hoãn, cũng sở hữu thể thấy mạch hoãn kèm theo phù, hoãn kèm theo trầm, hoãn kèm theo đại hoặc tiểu đó là mạch bệnh lý.

Mạch phù và mạch trầm: là hai chỗ mạch cao thấp tương phản, mạch phù là mạch nổi cao, để tay xúc tiếp với mặt da đã thấy mạch đập rõ, tiêu dùng lực tây ấn mạnh thấy sóng mạch giảm yếu, mạch trầm là mạch chìm sâu, để tay xúc tiếp mặt da ko thấy mạch đập, ấn nhẹ cũng ko thấy mạch đập, phải ấn mạnh mới thấy rõ mạch đập. 

Biểu hiện bệnh lý của mạch phù: bệnh thuộc biểu chứng, mạch phù mà sở hữu lực là biểu thực, phù mà ko sở hữu lực là biểu hư. Nếu như bệnh ngoại cảm mà sợ lạnh, phát sốt ko sở hữu mồ hôi, mạch phù khẩn là chứng biểu thực hàn, còn bệnh ngoại cảm phát sốt sở hữu mồ hôi, sợ gió, mạch phù nhược là chứng biểu hư hàn, với những bệnh nhân sở hữu thể chất suy nhược, lúc bị bệnh ngoại cảm mạch thường ko phù. Thời kỳ đầu của những bệnh truyền nhiễm cấp tính thường sở hữu mạch phù.

Biểu hiện bệnh lý của mạch trầm: bệnh thuộc lý chứng, trầm mà sở hữu lực là lý thực, trầm mà sở hữu lực là lý hư, nếu ho (khái thấu) vô lực, đàm lỏng trắng, khí đoản, sắc mặt trắng, ăn ít, gầy gò, mạch trầm nhược là phế truất khí hư thuộc về chứng khí hư. 

Mạch trì và mạch sác: đặc điểm hai loại trì và sác là hai loại mạch nhanh chậm tương phản mạch trì nhất tức (một lần thở) sở hữu ba lần mạch đập “nhất tức là tam lai thị mạch trì” tương đương với mỗi phút 90 lần trở lên.

Biểu hiện bệnh lý của mạch trì: là chứng hàn, phù mà trì là biểu hàn, trầm mà trì là lý hàn, trì mà sở hữu lực là thực chứng, vô lực là hư hàn thuộc về lý chứng.

Biểu hiện bệnh lý của mạch sác: là chứng nhiệt, sác mà sở hữu lực là dương thịnh, sác mà sở hữu lực là âm hư nội nhiệt, nếu như mặt đỏ, họng khô, tâm trạng phiền nhiệt, mạch sách sở hữu lực là tâm hoả vượng thuộc chứng dương thịnh. Mồm lở loét, sưng đau, ăn ko tiêu, mạch tế sách là vị âm hư, hư hoả thượng viêm thuộc hư nhiệt. 

Mạch hư và mạch thực: đặc điểm mạch hư và mạch thực là hai loại mạch sở hữu lực đập mạnh yếu tương phản.

Mạch hư là mạch phù, cả trung, trọng án đều vô lực, mạch thực là phù, trung, trọng án đều sở hữu lực. Mạch hư chủ bệnh khí huyết đều hư, mạch hư phù là thương thử.

Mạch thực chủ bệnh chứng thực, sốt cao, trằn trọc ko yên, đi ngoài bí kết, mạch thực mà hoạt là ngoan đàm ngưng kết tụ, thực mà huyền là can khí uất kết. 

Mạch hoạt và mạch sáp: là hai trạng thái mạch tương phản.

Mạch hoạt là sóng mạch đi lại lưu lợi dưới tay sở hữu cảm giác như hạt trâu lăn, mạch sáp là mạch đi lại sáp trệ (dung lai nhi mạt tức lai, dung khí nhi mạch tức khứ) tức thị sóng mạch muốn tới lại ko tới cùng, muốn đi mà ko đi hết. ứng với điện tâm đồ mạch sóng sở hữu hiện tượng dẫn truyền bị trở lại, mạch đồ cũng sở hữu biểu hiện to nhỏ ko đều. 

Mạch hoạt thường gặp trong chứng đàm thấp, nếu như tiếng ho khàn, đàm nhiều trắng, dễ khạc, tức ngực, ăn kém, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch hoạt đó là chứng đàm thấp khái thấu, lúc sở hữu thai thờng thấy mạch hoạt.

Mạch sáp thường gặp trong thiếu máu, khí trệ huyết ứ.

Mạch hồng và mạch tế: đặc điểm mạch tượng, mạch hồng và mạch tế là hai loại mạch tượng to, nhỏ và mạch yếu tương phản nhau.

Mạch hồng, mạch to, sóng mạch mạnh, cuồn cuộn như hồng thủy phù và đàm rõ, nmạch tế là mạch nhỏ như sợi dây, lực mạch ko mạnh, lúc ấn nặng tay (trọng án) mới thấy mạch đập.

Mạch hồng thường gặp trong trạng thái nhiệt thịnh, nếu như bệnh ôn nhiệt phần khí sở hữu mạch hồng đại nhiệt thịnh, sốt cao, phiền khát, đại hãn, mạch hồng đại, tương tự mạch hồng đại thường gặp trong chứng nhiệt thịnh. Nhiệt thịnh thương âm, lúc âm hư ở trong thì dơng phù ở ngoài cũng sở hữu thể thấy mạch hồng. thời kỳ toàn phát của những bệnh truyền nhiễm thường thấy mạch hồng.

Mạch tế thường gặp trong hư chứng hư lao, suy nhược thân thể , phần nhiều thấy mạch tế hoặc lúc thấp khí ở dưới, lúc thấp tà trở ngại mạch đạo cũng sở hữu thể thấy mạch tế, tương tự mạch tế cũng sở hữu thể thấy trong thực chứng. Ví dụ: sắc mặt trắng bủng, môi lưỡi trắng nhợt, đầu choáng mắt hoa, tâm quí thấy mạch tế là huyệt hư. Lúc đi ngoài sở hữu nhầy mũi, mỏi mệt, ăn kém, bụng chướng, tứ chi ko ấm, mạch đa phần là huyền tế mà hoãn thường gặp trong hàn thấp ly tật, bệnh thuộc thực chứng. 

Mạch huyền và mạch khẩn: sở hữu đặc điểm giống nhau, sóng mạch liền một mạch ở cả ba bộ thốn quan xích, cảm giác dưới ba đầu ngón tay sóng mạch đi khẩn trương, khác nhau là mạchk huyền thấy căng lúc ấn, mạch khẩn lúc ấn ko căng, lực mạch nguy cấp cảm thấy sở hữu lực ở dưới tay, lực của mạch huyền ko cương cấp như của mạch khẩn, trên hình mạch đồ mạch khẩn sở hữu sóng mạch cao hơn, to hơn mạch huyền.

Mạch khẩn thường gặp ở chứng hàn, chứng đau, lúc ngoại cảm phong hàn thấy mạch phù khẩn, lúc lý hàn sở hữu mạch trầm khẩn, ví dụ: trong chứng hàn tý (thống tý), những khớp của chi thể đau mỏi dữ dội, đau nhất mực lúc thấy sốt đau giảm, đa phần thấy mạch huyền khẩn.

Mạch huyền thường gặp trong chứng thống (đau), phong chứng ngược tật và đàm ẩm, âm hư dương vượng đa phần thấy mạch huyền, ví dụ: trong chứng cao huyết áp (can dương thiên vượng) thường là mạch huyền sở hữu lực, nhóm can âm bất túc thường là mạch huyền tế, trong chứng can vị bất hòa thường thấy mạch huyền, trong những bệnh về gan, loét hành tá tràng, viêm túi mật, kinh nguyệt ko đều, ung thư cổ tử cung, bệnh thuộc tạng thận đều sở hữu thể thấy mạch huyền.

Ở trên đã nếu 12 loại mạch thường gặp trên lâm sàng, sau đây là một số loại mạch ít gặp trên lâm sàng.

Mạch súc, mạch kết, mạch đại.

Mạch súc là mạch hoà hoãn, ko sở hữu qui luật, đôi lúc hẫng nhịp, ko đều, chủ mạch của chứng thực nhiệt, khí trệ huyết ứ.

Mạch kết là mạch hoà hoãn, ko sở hữu qui luật, thỉnh thoảng ko đều, sở hữu nhịp hẫng chủ mạch của chứng âm thịnh, khí kết, hàn đàm huyết ứ.

Mạch đại là mạch nhanh chậm như thường nhưng tự ngừng sở hữu qui luật, đập lại sau lúc ngừng nhịp, chủ mạch của chứng tạng khí suy vi hoặc do kinh sợ, chấn thương, ngoài ra những chứng nôn, ỉa lỏng nhiều cũng sở hữu thể thấy mạch đại.

Ba loại mạch súc, kết, đại sở hữu thể thấy những loại bệnh ở tạng tâm, ví dụ: trong thấp tim, hẹp ống thông động mạch, thiếu máu tâm cơ.

Mạch nhu là mạch phù nhỏ mà mềm, ấn nhẹ thấy mạch đập mềm như màng nước, ấn mạnh thì thấy mất mạch. Mạch nhu chủ bệnh của chứng thấp, chứng hư, ví dụ: thủy thũng và khí huyết đều suy nhược.

Mạch nhược là mạch trầm nhỏ mà mềm, chủ bệnh của chứng khí huyết bất túc.

Mạch vi là mạch rất nhỏ, rất mềm, như sở hữu, như ko sở hữu mạch, khó đếm, chủ bệnh của chứng đại hư, những triệu chứng nguy kịch, bệnh nặng lâu ngày.

Mạch to (đại) mạch sở hữu hình to hơn thông thường, nhưng sóng mạch ko căng, ko trào dâng như mạch hồng, chủ bệnh của chứng tà thịnh, mạch to mà ko sở hữu lực là chứng hư.

Mạch khâu là mạch phù đại mà rỗng, sờ mạch chỉ thấy thành mạch, ko thấy sóng mạch ở giữa như ấn vào dọc hành, chủ bệnh của chứng mất máu nhiều, thiếu máu.

Trên lâm sàng thường đa phần là kiêm mạch còn ít thấy đơn thuần một loại mạch. Qua thực tế thường chia làm ba loại sau đây.

Loại mạch thứ nhất: xuất hiện đơn thuần một loại mạch, còn loại mạch thứ hai và ba là kiêm mạch.

Mạch kiêm thường thấy: mạch phù sác, phù hoãn, phù khẩn, trầm trì, trầm huyền, trầm tế, huyền tế, tế sác, hoạt sác, huyền tế sác…chủ bệnh của mạch kiêm tương ứng với những loại mạch tổng hợp chủ bệnh.

Mạch trầm thể hiện bệnh ở lý, mạch trì chủ hàn, nếu trầm đi với trì là lý hàn.

Mạch tượng xuất hiện đơn độc ở một số phần lúc bị bệnh. Ví dụ: đau đầu thấy bộ thốn mạch phù…

Trong quan hệ giữa mạch và bệnh sở hữu thể thấy bệnh nào mạch đấy, nhưng cũng sở hữu thể thấy nhiều lạoi mạch khác nhau ở một bệnh, ví dụ: mạch huyền chủ về đau, về phong, về ngược tật còn chứng hàn thường thể hiện mạch trì hoặc mạch khẩn.

Những điểm cần chú ý lúc chẩn mạch cụ thể.

Biểu hiện mạch thông thường: mạch hoãn là một nhịp thở sở hữu 4 - 5 lần mạch đập, ko phủ, ko trầm, đều đều hoà hoãn, tuy nhiên do tác động hoàn cảnh bên ngoài với bên trong của từng thân thể sở hữu thấy một số biến đổi sinh lý: sau lúc ăn mạch sở hữu lực hơn, sau lúc vận động mạnh mạch thường hồng sác hoặc sau uống rượu mạnh phần nhiều là sác, lao động mạch đại sở hữu lực, vận động viên thể thao thường sở hữu mạch trì, thường sở hữu tới 50% người thông thường mạch thiên về trầm tế, và một số người sở hữu mạch phù đại. Phụ nữ thường sở hữu mạch khá tế nhược, lúc hành kinh thường mạch ở bộ quan bên trái hồng hoặc trì, mạch trẻ con thường nhanh, ở trẻ 5 tuổi trở xuống một nhịp thở sở hữu thể tới 6 lần mạch đập cũng là thông thường. Mạch người già thường cứng chắc hơn (xơ), một số người do vị trí phẫu thuật bẩm sinh, động mạch quay ko ở trong rãnh quay mà ở phía sau ngoài gọi là “mạch phản quan” cũng là thông thường.

Người xưa thường sở hữu ba căn cứ để phân biệt giữa mạch thông thường và mạch bệnh lý đó là “vị, thần, căn”.

Mạch ko phù, ko trầm, đều đều hoà hoãn là vị khí tốt (hay là sở hữu bị khí).

Sóng mạch tới nhu hoà, bên trong sở hữu lực là mạch sở hữu thần.

Khám mạch ở cử trầm (ấn những ngón tay sát xương) mạch vẫn đập rõ là vì mạch hữu căn (sở hữu rễ).

Thường mạch hữu căn, hữu vị, hữu thần là mạch tốt, con người khoẻ mạnh, lúc bệnh nghiêm trọng hoặc sau bệnh thoái lui cũng thường phải dựa vào ba loại căn cứ này để suy đoán và tiên lượng tốt hay ko tốt.

Hai mươi tám loại mạch là trải qua quá trình nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của y khoa cựu truyền phương đông nói chung và y khoa dân tộc Việt Nam nói riêng, trong lúc ứng dụng vào chẩn trị sở hữu thể tóm tắt trên những mặt sau đây:

Về đại thể đều sở hữu quan niệm giống nhau, mạch thường là do những yếu tố: vị trí, tần số, nhịp, cường độ, biên độ, hình thái quyết định, nói chung vị trí mạch đập nông hay sâu sở hữu thể liên hệ phù hay trầm, từ tần số nhịp đập của mạch sở hữu thể liên hệ với hư, thực, từ hình thái mạch đập sở hữu thể liên hệ với mạch huyền, hồng, hoạt, vi, sáp, từ nhịp đập của mạch đều hay hẫng nhịp ko đều sở hữu thể liên hệ với mạch súc, mạch kết, mạch đại…

Đối chiếu mạch với bát cương trên đại thể sở hữu thể xếp tương ứng:

Mạch phù là biểu chứng, mạch trầm là lý chứng

Mạch sác là nhiệt chứng, mạch trì là hàn chứng

Mạch sở hữu lực là thực chứng, mạch vô lực là hư chứng

Thông qua phân tích sáu loại mạch trên sở hữu thể kết luận tình hình mạch yếu xu thế chung của chính khí và tà khí, đưa tới tổng cương “âm dương”.

Đối chiếu giữa mạch với chứng bệnh tương ứng, sở hữu thể khái quát quy luật chung là mạch và chứng là tương hợp, chứng nào sở hữu mạch đấy, tuy nhiên sở hữu một số ít trường hợp ko tương ứng giữa mạch tượng và triệu chứng bệnh. Tương tự, việc bỏ mạch lấy chứng, hay bỏ chứng lấy mạch cần phải dựa trên cơ sở vật chất phân tích toàn diện những yếu tố chính quyết định trong chẩn đoán.

Liên hệ với y khoa hiện đại, còn một số vấn đề chưa thích hợp, ví dụ: như bệnh viêm ruột thừa triệu chứng thực thể về cơ bản đã hết nhưng mạch vẫn sác (nhanh).


--- Cập nhật: 22-01-2023 --- edu.dinhthienbao.com tìm được thêm bài viết Nhiệt ở lưỡi: nguyên nhân và cách khắc phục hiệu quả từ website medlatec.vn cho từ khoá giải bài tập văn giữa lưỡi.

Nhiệt ở lưỡi rất thường gặp và toàn bộ là lành tính, tuy nhiên gây đau, xót, tác động ko ít tới việc ăn uống và sinh hoạt. Những vết nhiệt ở lưỡi sở hữu màu đỏ hoặc trắng. Vận dụng những cách điều trị thuần tuý mà MEDLATEC san sớt dưới đây sẽ giúp bạn khắc phục tình trạng này nhanh chóng.

20/10/2021 | Điểm danh ngay 5 mẹo chữa nhiệt mồm thuần tuý nhất
24/09/2021 | Bạn bị nhiệt mồm thường xuyên là do đâu?

1. Nhiệt ở lưỡi do nguyên nhân nào gây ra?

Nhiệt ở lưỡi xảy ra lúc sở hữu tổn thương dạng viêm loét xuất hiện ở niêm mạc lưỡi sở hữu màu trắng sữa, xung quanh vết loét là viền màu đỏ. Nhiệt ở lưỡi thường sẽ tự khỏi sau 7 - 10 ngày, song gây tấy đỏ và đau, tác động ko nhỏ tới việc ăn uống. Số ít trường hợp nhiệt ở lưỡi bị sưng viêm kéo dài và bội nhiễm sẽ cần tiêu dùng tới kháng sinh để điều trị.

Nhiệt ở lưỡi là tình trạng tổn thương thường gặp gây đớn đau

Ngoài cảm giác sưng đau ở lưỡi, nhiệt ở lưỡi còn khiến cho người bệnh sở hữu những triệu chứng khác như: giảm vị giác, khô mồm, khát nước liên tục, tê và ngứa ở lưỡi,… Những triệu chứng sẽ thuyên giảm lúc vết loét hết sưng đau và dần thu nhỏ kích thước.

Những nguyên nhân khiến cho bạn bị nhiệt ở lưỡi bao gồm:

1.1. Cắn hoặc tổn thương ở lưỡi

Cắn hoặc tổn thương sẵn ở lưỡi khiến cho vết thương sở hữu thể bị lở loét, nhiễm trùng do trong môi trường ẩm trong mồm. Đây cũng là nguyên nhân thường gặp gây nhiệt ở lưỡi mà ít bệnh nhân quan tâm.

1.2. Vệ sinh mồm chưa tốt

Mồm là nơi phát triển của nhiều loại vi khuẩn, trong đó sở hữu cả hại khuẩn và lợi khuẩn. Vệ sinh răng mồm ko sạch sẽ khiến cho vi khuẩn gây hại phát triển nhiều hơn gây ra nhiễm khuẩn.

Vệ sinh răng mồm ko tốt là nguyên nhân dẫn tới nhiệt lưỡi

1.3. Thiếu hụt dinh dưỡng

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, thiếu sắt và Vitamin B12 khiến cho nhiệt mồm ở lưỡi trở nên nghiêm trọng hơn.

1.4. Thói quen ăn uống ko lành mạnh

Ăn quá nhiều thức ăn cay nóng, thức ăn nhiều dầu mỡ khiến cho gan bị quá tải và cũng gây tổn thương niêm mạc lưỡi.

1.5. Suy giảm chức năng gan

Khả năng khử độc của gan bị suy giảm sẽ khiến cho độc chất tích tụ trong thân thể gây ra những vết lở loét ở lưỡi, môi hoặc nhiều vị trí khác trong mồm.

Nhiệt lưỡi là bệnh lành tính sẽ tự khỏi, tuy nhiên cần chú ý nếu vết loét ở lưỡi kéo dài ko tự khỏi là tín hiệu của ung thư mồm hoặc lưỡi. Ung thư lưỡi là bệnh lý phức tạp, ban sơ bệnh gây ít triệu chứng, trong đó sở hữu triệu chứng dễ nhầm lẫn với nhiệt ở lưỡi hoặc mồm. Do đó nếu nhiệt ở lưỡi thường xuyên xảy ra, vết loét kéo dài và xuất hiện nhiều thì cần đi rà soát.

2. Cách khắc phục nhiệt ở lưỡi tại nhà thuần tuý

Để giảm triệu chứng đớn đau và giảm thời kì tiến triển bệnh, hãy ứng dụng những cách điều trị nhiệt ở lưỡi dưới đây:

2.1. Sử dụng gel điều trị nhiệt mồm

Trên thị trường hiện bán nhiều loại gel bôi tại chỗ sở hữu tác dụng chống viêm sở hữu tác dụng rút ngắn thời kì hồi phục vết loét và giảm đau do nhiệt mồm. Tuy nhiên, cần lưu ý lúc sử dụng cho trẻ nhỏ, thuốc bôi tại chỗ sở hữu thể tác động tới men răng đang phát triển của trẻ.

2.2. Vệ sinh răng mồm sạch sẽ

Nhiều người bị nhiệt ở lưỡi do đớn đau nên lười vệ sinh răng mồm hơn, song thời khắc này cần đặc trưng chú ý đánh răng hàng ngày cùng với súc mồm để loại bỏ vi khuẩn gây hại. Lúc đó, vết viêm loét ở lưỡi cũng nhanh khỏi hơn.

2.3. Súc mồm

Kế bên đánh răng thì súc mồm bằng nước muối sinh lý hoặc dung dịch nha khoa là cách vệ sinh tốt để xoá sổ, ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn. Hơn nữa, nước muối còn giúp làm khô vết loét, giảm sưng và giảm đau hiệu quả.

Súc mồm nước muối giúp sát khuẩn, giảm sưng đau do nhiệt ở lưỡi

2.4. Chế độ ăn uống lành mạnh

Lúc bị nhiệt ở lưỡi, vấn đề ăn uống trở nên khó khăn hơn, lựa chọn những thực phẩm tốt giúp bạn dễ ăn hơn và tránh bệnh kéo dài. Vậy nên chọn những thực phẩm nào lúc bị nhiệt ở lưỡi?

Những loại đậu: như đậu đen, đậu xanh sở hữu tính mát, giúp thanh nhiệt, chứa nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khỏe và giảm nhanh triệu chứng nhiệt mồm.

Bột sắn dây tinh luyện: Chứa nhiều Vitamin và khoáng vật tốt, giúp làm mát thân thể và làm dịu cơn đau do viêm loét ở lưỡi gây ra. Uống bột sắn dây là bài thuốc trị nhiệt mồm, nóng trong được ông cha ta ứng dụng từ rất lâu tới nay.

Những loại rau xanh: cung ứng Vitamin, khoáng vật sở hữu tác dụng đẩy nhanh quá trình làm lành tổn thương, làm mát thân thể. Ăn nhiều rau xanh mỗi ngày giúp thân thể khỏe mạnh hơn, đẩy lùi tình trạng nhiệt mồm, nhiệt lưỡi.

Mật ong: Mật ong sở hữu tính sát khuẩn tự nhiên rất tốt trong những loại bệnh viêm loét, tổn thương tiến triển. Sử dụng mật ong bôi vào vết loét dưới lưỡi là bài thuốc dân gian giúp giảm sưng đau hiệu quả.

3. Những thực phẩm nào nên tránh lúc bị nhiệt ở lưỡi?

Để ko gây kích thích khiến cho vết viêm loét ở lưỡi gây đau nhức và lan rộng hơn, bạn nên tránh những loại thực phẩm sau:

3.1. Trái cây chứa nhiều acid

Những loại trái cây họ cam quýt, chanh, bưởi,… chứa nhiều acid và sở hữu vị chua sẽ khiến cho vết loét ở lưỡi nặng hơn. Do đó, nên hạn chế ăn những trái cây này lúc đang bị loét ở lưỡi.

3.2. Cà phê

Cà phê chứa acid salicylic dễ gây kích ứng mô nhạy cảm trong mồm, đặc trưng khu vực vết viêm loét ở lưỡi. Nên hạn chế cà phê nếu bạn thường xuyên bị nhiệt mồm, nhiệt lưỡi.

Cà phê là thức uống ko tốt sở hữu thể gây ra nhiệt lưỡi thường xuyên

3.3. Thức ăn cay nóng

Thực phẩm cay chứa những thành phần dễ gây kích ứng kết hợp với nhiệt độ cao sẽ khiến cho vết loét nặng hơn, sưng đau và lâu lành hơn.

Nếu những cách điều trị tại nhà trên ko hiệu quả hoặc nhiệt ở lưỡi kéo dài, tái phát nhiều lần thì người bệnh nên tìm tới sự trợ giúp của những loại thuốc để nhanh khỏi hơn. Cần kỹ lưỡng với tín hiệu của ung thư lưỡi bị nhầm lẫn với nhiệt ở mồm, nếu xuất hiện những tín hiệu thất thường như sưng lưỡi, nổi u cục, lưỡi thiếu linh hoạt,… thì nên đi khám và rà soát sớm. Trường hợp ung thư lưỡi sẽ cần điều trị tích cực để kiểm soát sự phát triển của khối u.

Nếu cần tư vấn thêm, liên hệ 1900 56 56 56 để được tương trợ từ những chuyên gia của MEDLATEC.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *