Nhiệt phân là gì? Phản ứng nhiệt phân là gì? Kí hiệu và quá trình nhiệt phân mới nhất 2021 | LADIGI

Phân hủy bằng nhiệt, hay nhiệt phân, là một phân hủy hóa học gây ra bởi nhiệt năng. Nhiệt độ phân hủy của một chất là nhiệt độ mà chất đó bị phân hủy hóa học. Phản ứng thường là phản ứng thu nhiệt vì nhiệt được yêu cầu để phá vỡ những liên kết hóa học trong hợp chất trải qua quá trình phân hủy. Nếu sự phân hủy tỏa nhiệt đủ mạnh, một vòng phản hồi tích cực được tạo ra, và tạo ra sự thoát nhiệt và với thể trở thành một vụ nổ.

Mục lục

  • 1

    Ví dụ

    • 1.Một Phân hủy nitrat, nitrit và những hợp chất amoni
  • 2

    Dễ phân hủy

  • 3 Tham khảo

Ví dụ

  • Calci cacbonat (đá vôi hoặc phấn) phân hủy thành canxi oxit và carbon dioxide lúc đun nóng. Phản ứng hóa học như sau:
CaCO 3 → CaO + CO 2
Phản ứng được sử dụng để tạo ra vôi sống, là một sản phẩm quan yếu trong công nghiệp.
Một ví dụ khác về phân hủy nhiệt là  :
– 2Pb(NO3)2 —-> 2PbO + O 2 + 4NO 2
  • Một số oxit, đặc thù là những kim loại với độ điện ly yếu bị phân hủy lúc đun nóng tới nhiệt độ đủ cao. Một ví dụ cổ điển là sự phân hủy oxit thủy ngân để tạo ra oxy và kim loại thủy ngân. Phản ứng đã được Joseph Priestley sử dụng để chuẩn bị mẫu khí oxy lần trước tiên.
  • Lúc nước được làm nóng tới hơn 2000 °C, một tỷ lệ nhỏ của nó sẽ phân hủy thành OH, oxy nguyên tử, hydro nguyên tử, O2 và H2.[1]
  • Hợp chất với nhiệt độ phân hủy cao nhất được biết tới là carbon monoxide ở 3870 °C (7000 °F).[]

Phân hủy nitrat, nitrit và những hợp chất amoni

  • Amoni đicromat lúc đun nóng thu được oxit nitơ, nước và crom (III) oxit.
  • Amoni nitrat lúc đun nóng mạnh tạo ra oxit dinitrogen (“khí gây cười”) và nước.
  • Amoni nitrit lúc đun nóng tạo ra khí nitơ và nước.
  • Bari azide lúc đun nóng thu được kim loại bari và khí nitơ.
  • Natri azide lúc đun nóng ở 300 °C tạo ra nitơ và natri.
  • Natri nitrat lúc đun nóng tạo ra natri nitrit và khí oxy.
  • Những hợp chất hữu cơ như amin bậc ba lúc đun nóng trải qua quá trình loại bỏ Hofmann và tạo ra những amin thứ cấp và anken.

Dễ phân hủy

Lúc những kim loại ở sắp đáy của chuỗi phản ứng, những hợp chất của chúng thường bị phân hủy tiện dụng ở nhiệt độ cao. Điều này là do những liên kết mạnh hơn hình thành giữa những nguyên tử hướng tới đỉnh của chuỗi phản ứng và liên kết mạnh bị phá vỡ ít tiện dụng hơn. Ví dụ, đồng ở sắp đáy của chuỗi phản ứng và đồng sunfat (CuSO4), khởi đầu phân hủy ở khoảng 200 °C, tăng nhanh ở nhiệt độ cao hơn khoảng 560 °C. Trái lại, kali ở sắp đầu chuỗi phản ứng và kali sunfat (K2SO4) ko bị phân hủy ở điểm nóng chảy khoảng 1069 °C, thậm chí ko bị phân hủy ngay cả tại điểm sôi của nó.

Tham khảo

  1. ^
    Baykara, S (2004). “Hydrogen production by direct solar thermal decomposition of water, possibilities for improvement of process efficiency”. . 29 (14): 1451–1458. doi:10.1016/j.ijhydene.2004.02.014.

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *